Sáng nay tôi gặp anh Sơn. Anh độ khoảng 40 tuổi, nước da ngâm ngâm đen, dáng người nhỏ nhỏ thấp thấp. Giọng nói của anh sang sảng, tiếng cười dòn tan thoải mái. Anh xin lỗi đến trễ vì trên đường từ Gò Công lên Sài Gòn, qua khỏi Mỹ Tho, anh bị trợt bùn té xe hai lần. Anh là giáo sư dạy trung học (cấp 3) ở Gò Công, bạn của chị bạn của tôi. Đúng như chị bạn tả: anh Sơn là người vui vẻ, cởi mở, trực tính, “nghĩ sao nói vậy”. Vừa nhận xét như vậy thì tôi nghe anh nói: “Lúc nghe chị V. nhờ tui làm ‘hướng dẫn du lịch’ đưa anh đi thăm đồng bằng Cửu Long, tui nhận lời nhưng tui lo lắm, không biết anh là loại Việt kiều nào đây. Bây giờ thấy anh như vầy, tui mừng lắm!” (Tôi nghĩ chắc vì anh thấy tôi phục sức đơn giản, xuề xòa, hành trang thì chỉ có một backpack nhỏ gọn).
Đứng giữa bãi đậu xe trong sân trường Đại Học Sư Phạm, anh Sơn cột chặt ba-lô của tôi vào dưới ghi-đông chiếc xe máy Honda cũ không biết đời nào của anh. Trước khi nổ máy xe, anh móc trong túi áo ra đưa tôi một cái nón như loại nón baseball. “Nè, đội cái này đi. Đi đường trường dang nắng kiểu này mà không có nón đội là cảm cúm luôn đó.” Cử chỉ chu đáo của anh làm tôi vừa cảm động vừa an tâm. Tôi từ giã chị bạn, hẹn chị mươi ngày nữa tôi sẽ quay lại. “Ừ, đi vui, nhưng nhớ cẩn thận nghe,” chị dặn dò. Anh Sơn chào chị rồi cho chiếc Honda vọt ra khỏi cổng trường.
Vậy là cuộc hành trình đi thăm Đồng bằng Cửu Long của tôi đã bắt đầu. Mơ ước không còn là ước mơ suông nữa. Tôi đang thật sự đi trong giấc mơ của những tháng năm qua…

Ra khỏi Sài Gòn xe cộ thưa thớt dần và con đường cũng từ từ nhỏ lại. Hai bên, ruộng đồng xanh ngát bắt đầu hiện ra sau những dãy nhà tranh, nhà ngói, cũ, mới xen lẫn nhau chạy dài ven quốc lộ.
Chúng tôi đi qua Bình Chánh, Bến Lục, Tân An, rồi Châu Thành. Đến thị xã Mỹ Tho khoảng trước trưa, chúng tôi ghé lại để trao thư và quà từ một người quen bên Mỹ gửi tôi cầm về cho một người quen ở đây có đứa con nhỏ bị tật nguyền.
Rời Mỹ Tho, qua Chợ Gạo được một khoảng, tôi chợt nhận ra đường quốc lộ trong Nam thật phẳng và êm. Phong cảnh chung quanh không lên núi xuống đèo như ở ngoài Trung hay ngoài Bắc mà chỉ toàn là những thửa ruộng cò bay thẳng cánh phẳng lì, bát ngát, xanh mượt một màu trải dài đến tận chân trời.
Hình như vì chiếc xe máy cũ quá hay sao mà chúng tôi chạy với vận tốc rất chậm, chỉ trên dưới 40, 50, cây số một giờ. Nhưng phải nói là nhờ đi chậm nên tôi thấy được nhiều hơn. Dọc đường có nhiều ngôi trường làng nhỏ nhắn, chỉ có vài lớp học được bao quanh một khoảng đất vuông là sân trường. Chúng tôi đi ngang nhiều cây cầu xây thời Tây thời Mỹ, ở dưới cầu quang cảnh thuyền bè qua lại sống động và ở hai đầu cầu chợ họp nhộn nhịp. Tôi từ từ nhận ra cuộc sống ở đây đúng là gắn liền với sông lạch. Ở gần chợ, đôi khi tôi lại thấy một mái chùa nhỏ, trước sân chùa nỗi bật hình ảnh từ bi tượng Phật Bà Quan Âm màu trắng.
Ngồi trên yên ghế sau của chiếc Honda, tôi cảm thấy một niềm hân hoan khó tả của một người may mắn được đi (từ từ, chậm chậm) giữa lòng quê hương. Hơi gió đồng nội mát mẻ thổi lùa vào tóc. Ánh nắng của mặt trời nhiệt đới ấm áp trên da thịt. Mùi bùn trộn lẫn mùi lúa, mùi sông ngòi, mùi hoa trái cỏ cây tràn ngập mỗi hơi thở của tôi.
Đôi khi những chiếc xe hơi, xe hàng, xe buýt hoặc xe du lịch nhỏ chở đầy du khách Việt kiều và du khách nước ngoài phóng ào ào qua mặt chúng tôi, bấm còi inh ỏi, để lại đằng sau những cơn lốc khói bụi mịt mù. Mỗi lần như vậy, mặc dù anh Sơn đã cố gắng đưa chiếc Honda của anh qua sát bên mặt để nhường lối đi, nhưng những chiếc xe lớn vẫn ép sát, có lần vài phụ nữ gồng gánh đi bộ dọc bên lề đường phải chạy dạt xuống bờ ruộng, gần đổ cả quang gánh…

Gò Công cách Mỹ Tho khoảng hai tiếng ruỡi đồng hồ. Trời mới tạnh mưa khi chúng tôi đến thị xã Gò Công Tây. Những con đường đất lầy lội ngập nước bùn. Anh Sơn cho xe dừng lại trước một quán cơm bình dân bên đường có đặt vài cái bàn nhỏ bằng gỗ để khách ngồi ăn.
Dĩa cơm tấm, điểm vài lát dưa leo mỏng và vài cọng rau thơm, đơn giản mà thật là hấp dẫn. Sẵn đói bụng, tôi cầm đũa ăn ngon lành. Không biết từ lúc nào, những đứa bé không biết ở đâu hiện ra, áo quần lấm lem, mình trần, chân đất, ngồi xổm ngoài cửa chầm chầm nhìn tôi ăn. Lúc đầu tôi không để ý, nhưng một lát sau tôi thấy có một cái gì đó trong cái nhìn của những đứa bé ở thôn quê này làm tôi có cảm giác là “ngoại nhân” trên chính quê hương mình.
Ăn trưa xong, chúng tôi đi tiếp qua Gò Công Đông. Anh Sơn chở tôi đến một quán giải khát đối diện trường trung học Trương Định nơi anh dạy. Trong quán đang có vài thầy giáo của trường đang ngồi hút thuốc, uống cà phê, nghỉ “xả hơi” giữa những tiết dạy. Anh Sơn giới thiệu mọi người. Thầy P. T. Sắc (Tổ trưởng tổ Ngoại ngữ và Hán học), thầy P. V. A (Giáo sư Sử và Hán học), và các thầy dạy Vật lý, Hóa học… Họ đang hăng hái thảo luận về một máy tính nhỏ mà một người trong bọn họ mới mua.


Thùng-thùng, thùng.
Thùng-thùng, thùng…
Tiếng trống vang lại từ phía sân trường. Anh Sơn giải thích, đó là trống báo hiệu đổi tiết học. Đây là lần đầu tiên mà tôi nghe tiếng trống dùng để báo hiệu đổi tiết học. Anh Sơn và tôi đứng lên cáo từ các thầy rồi đi băng qua con đường đất để vào trường. Lúc qua cổng trường, nhiều cháu học sinh đứng lại, vòng tay cúi đầu lễ phép “Thưa thầy” với anh Sơn và tôi. Tôi đã quen với lối xã giao tự nhiên, có lúc gần như là thiếu phần lễ độ, của đa số học sinh sinh viên bên Mỹ nên hơi ngạc nhiên với cung cách hết sức kính cẩn của các cháu học sinh. Cho đến khi bước vào trong trường thấy những tấm bảng có ghi sáu chữ “Tiên học lễ, hậu học văn” treo khắp nơi, tôi mới vỡ lẽ. Sau này, trong suốt chuyến đi, có dịp gặp gỡ các học trò cũ của anh Sơn, mặc dù nay đã lớn, có người đã có gia đình nghề nghiệp, mà vẫn giữ cung cách cư xử này với anh Sơn, và với cả tôi by association [do liên đới].
Anh Sơn đưa tôi vào thăm văn phòng giáo sư, vài lớp học, phòng thí nghiệm lý hóa, và phòng tin học vừa mới được xây cất. Tôi ngạc nhiên khi thấy một trường trung học ở một thị xã nhỏ như Gò Công, có trang bị được cả một hệ thống vi tính hiện đại đầy đủ máy in và khoảng mười máy vi tính, mà vẫn còn dùng trống để báo hiệu đổi tiết thay vì dùng chuông điện! Điều này thật thú vị, tôi tự nghĩ, vì tiếng trống thì nghe thấy “lãng mạn” và “thôn quê” gần gũi hơn tiếng chuông điện công nghiệp. Cũng như những cây cầu khỉ mà trong chuyến đi tôi được thấy và được đi qua: tuy bê tông dư thừa và kỹ thuật xây cầu đã được hiện đại hóa, nhưng tôi cảm thấy những cây cầu khỉ “lắc lẻo”, vẫn “thơ mộng” và gần gũi hơn vì được người dân quê sử dụng hàng ngày để đi qua lại trên những con lạch, con kênh…
Sau giờ tan trường, thầy P. V. A lấy xe máy chở tôi về nhà anh ở ấp Gò Tre. Đây là lần đầu tiên tôi được đi xe máy trên những con đường đất nhỏ, rất nhỏ, trong một làng quê, giữa những thửa ruộng xanh mướt. Trên đường đến nhà anh A chúng tôi đi ngang một ngôi chùa nhỏ thấp thoáng nằm khuất sau một hàng cây. Anh Sơn đã thu xếp để tôi về ở với gia đình anh A trong thời gian tôi ở Gò Công.
Con chó vàng chạy ra sủa vui mừng khi anh A dựng chiếc xe máy giữa khoảng sân mới tráng xi-măng trước nhà. Nhà nằm ở góc một thửa ruộng, có một con đường đất nhỏ dẫn vào sân nhà. Chung quanh nhà là vườn trồng cây. Cuối vườn là một hàng tre cao rủ bóng xuống một cái ao nuôi cá. Nhà hai gian lợp mái tranh, nền bằng đất nện, bốn bức tường gạch mới xây chưa tô vôi. Sát bên hông nhà có một giếng nước ngọt và ba chiếc lu sành đựng nước mưa.
Ngoài dạy học, anh A còn là một nhà nông. Gia đình anh có tất cả 200 sào ruộng và mấy năm trở lại đây, mỗi năm đều tăng thêm được vụ mùa nhờ chính phủ cho thi công 3 chương trình để bổ sung giúp đỡ nông thôn. Đó là, mở rộng và nâng cấp những con đường làng, dẫn điện về khắp mọi nơi từ đầu thôn đến cuối xóm, và gia tăng lượng dẫn nước từ các mạng sông lạch. Nhờ đó mà năm nay lúa đã tăng lên được ba vụ, anh A nói. Và cũng nhờ mức lợi nhuận gia tăng này, cộng thêm đồng lương đi dạy của anh và sạp hàng của chị A, mà cuộc sống gia đình anh đỡ vất vả hơn trước, có dư chút đỉnh để sửa sang lại ngôi nhà và còn gởi con đi học ở Sài Gòn nữa.
Ở nhà quê trời tối thật nhanh. Chúng tôi đã ăn một bữa cơm gia đình vui vẻ thân mật có cả Má anh A, năm nay đã trên 80 tuổi, ở chung trong nhà, và con trai út của anh khoảng 20 tuổi đang nghỉ hè từ Sài Gòn về. Bữa ăn chấm dứt với món cà-rem tráng miệng lạnh mát ngọt lịm, đựng trong những hộp nhựa nhỏ lấy từ tủ lạnh mà chị A tự làm ở nhà để bán ngoài sạp hàng của chị.
Tối hôm đó, tôi cùng gia đình anh A ngồi xem một chương trình cải lương trên chiếc tivi nhỏ đặt cạnh bàn thờ Phật và tổ tiên. Hình ảnh và âm thanh trên màn ảnh khi rõ khi mờ, nhưng cả gia đình đã thức đến khuya để xem cho hết tuồng.
Anh chị A giúp tôi bắc mùng trên chiếc phản gỗ kê giữa phòng khách. Lâu lắm, hơn mấy chục năm rồi, tôi mới lại nằm mùng. Mỏi mệt vì đổi gió và vì không quen đi xe máy cả ngày, tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bên ngoài chiếc mùng mỏng, từng đàn muỗi bay vo ve.
Nữa khuya tiếng kêu cạp-cạp ồn ào của bầy vịt ở ngoài ruộng làm tôi bật tỉnh dậy. Trời tối om, ngoài khung cửa sổ chỉ có ánh trăng mờ ảo. Tôi nghe tiếng anh A thức dậy ở gian sau. Một lát có tiếng anh bước ra ngoài, lội xuống ruộng để đuổi bầy vịt của nhà láng giềng bơi qua phá ruộng của anh…
Tiếng rao hàng xen lẫn trong tiếng gà gáy và chó sủa vang lại từ đâu đó đánh thức tôi dậy. Bên ngoài vẫn còn mờ tối nhưng ở phía đông trời đã ửng hồng. Tôi vén mùng ngồi dậy bước ra sân. Bên kia bờ ruộng, trên con đường đất nhỏ, sinh hoạt của dân làng đã bắt đầu từ trước khi mặt trời ló dạng. Những người đàn bà quảy gánh nhịp nhàng rảo bước, hai đầu đòn gánh nặng trĩu bánh trái hoa quả, xen lẫn với họ là những con trâu lững thững bước đi bên đám mục đồng. Đó đây từng toán học trò mặc đồng phục xanh trắng cắp sách đi học. Buổi sáng ở nhà quê nhộn nhịp mà vẫn yên bình.
“Ủa, dậy rồi hả?” Chị A vừa hỏi vừa dẫn xe đạp từ nhà sau đi ra. Hàng hóa chị đem theo để bán ngoài sạp chất cao trên yên sau và treo lủng lẳng hai bên ghi-đông. “Bây giờ tui đi trước nghe. Xế trưa anh A chở lên trường rồi gặp ở ngoải luôn.” Chị đội chiếc nón lá lên đầu, rồi dắt chiếc xe đạp rảo bước men theo bờ ruộng về phía con đường đất. Một lúc sau, bóng của chị nhập vào đoàn người gồng gánh đằng xa…
Mặt trời từ từ ló dạng sau rặng cây bên kia thửa ruộng. Tôi ra mấy cái lu bên hiên nhà múc nước tắm, những gáo nước mưa lạnh mát trong vắt xối lên người làm tôi tỉnh hẳn.

Sáng hôm đó, tôi đi với người con trai của anh A ra ngôi chùa mà tôi thoáng thấy hôm qua trên đường vào làng. Hai chúng tôi đi bộ trên con đường đất nhỏ, hai bên là những căn nhà tranh nằm giữa những thửa ruộng chạy dài đến hàng cây đàng xa. Dưới ruộng, nước ngập đến đầu gối, những bác nông dân áo vải quần nâu đang làm việc đồng áng bên cạnh những con trâu lấm bùn đang ì ạch kéo cày. Cảnh đồng áng trước mắt tôi thật thanh bình, như một bức tranh, và có vẻ như là đã hiện hữu từ hàng ngàn năm nay trên khắp các vùng thôn quê của đất nước.

Qua khúc quanh của con đường thì hai người chúng tôi đến chùa. Bên trong cổng Tam Quan, trước sân chùa, có một cây Bồ Đề thật lớn, cành lá xum xuê bóng mát che rợp cả pho tượng Phật Bà Quan Âm làm bằng đá màu trắng đứng quay nhìn về hướng Tây. Bước vào chánh điện, chúng tôi được hai tín nữ Phật tử đang làm công quả ở chùa bước ra tiếp. Người con anh A giới thiệu tôi là Việt kiều bên Mỹ mới về nước, hiện đang ở trong làng, xin vào viếng cảnh chùa. Họ rót nước trà mời chúng tôi rồi kể cho tôi nghe về sự tích của chùa. Chùa tên là Thanh Trước, đã có từ lâu, nhưng được trùng tu lại chỉ có một lần cách đây 75 năm (*). Họ nói thầy trụ trì của chùa hiện bị bệnh nặng, đang chữa trị trong bệnh viện ở Sài Gòn nên Phật tử trong làng thay phiên nhau trông nom chùa trong lúc thầy vắng mặt.

Họ hướng dẫn tôi đi xem toàn cảnh chùa. Khi trở lại chánh điện, họ chỉ hàng cột gỗ mun to lớn chống đỡ mái chùa đã có từ hơn trăm năm nay, và nói với tôi rằng tuy trông ở ngoài nguyên vẹn chắc chắn, nhưng bên trong đã bắt đầu bị mối ăn mục nát ở nhiều nơi rồi. Lúc tôi chào họ ra về, họ gửi lời nhờ tôi nhắn với đồng bào Phật tử gốc Gò Công, Tiền Giang, ở bên Mỹ phát tâm đóng góp công quả gửi về để giúp trùng tu chùa Thanh Trước.
Chú thích:
(*) Sau khi trở lại Mỹ, tôi bù đầu với công việc ở trường nên đã vô tâm không follow up nên, cho tới thật lâu sau, mới được biết thêm về lai lịch chùa Thanh Trước và cũng mừng là nay chùa đã được trùng tu để trở thành một điểm đến tâm linh và du lịch như sau:
Ngôi Chùa Thanh Trước Gò Công là một ngôi chùa cổ, tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Theo truyền thuyết kể lại, ngôi chùa do các mục đồng dựng lên vào năm 1826. Lúc đầu, nơi đây chỉ là một thảo am rất nhỏ có tên gọi là “Phật Linh”. Đến khi Thiền sư Ngô Thiện, thuộc dòng Lâm Tế chính tông đời thứ 39 về trụ trì, chùa mới được xây cất tôn nghiêm và lấy tên là Thanh Trước. Chùa trải qua 7 đời trụ trì. Năm 1851, Hòa Thượng Chân Hội về làm trụ trì đã cho trùng tu và mở rộng ngôi chùa. Năm 1896, Hòa Thượng Hải Tràng lại cho trùng tu chùa. Rồi sau đó Hòa thượng Hoằng Thông đã cho sửa chữa vào các năm 1946, 1958, và 1989.
Ngày xa xưa, khuôn viên nhà Chùa Thanh Trước Gò Công rất rộng, nay chỉ còn khoảng 1 hecta. Qua các lần trùng tu, diện mạo chùa Thanh Trước cũng đã thay đổi khá nhiều. Nhưng bên trong chánh điện vẫn còn bảo lưu được nét kiến trúc cổ với 40 chiếc cột gỗ đen bóng và rui mè, mái ngói. Các bệ thờ đã được xây dựng lại và tô bằng đá mài.
Ở trên bàn thờ tổ không thờ tổ Đạt Ma mà thờ đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi với một khung kính ghi rõ tiểu sử. Hậu tổ có 4 tấm linh vị của các dòng Lâm Tế chính tông đã trụ trì ở chùa. Trong chùa còn lưu giữ nhiều di vật quý, như tượng Đức Phật, chân dung Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ở khuôn viên chùa có tháp Tổ.
Khi bạn có dịp đến Tiền Giang du lịch nơi đây, bạn cũng không nên bỏ qua một chuyến tham quan, vãn cảnh Chùa Thanh Trước Gò Công, để có thể tìm đến chốn thanh tịnh, xua tan đi mọi mệt mỏi, lo toan của cuộc sống hiện đại và khám phá những nét đẹp về văn hóa, truyền thống độc đáo nơi đây.⧫

Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.