Bài MELVIN MCLEOD
Nhiều người cho rằng đạo Phật rốt cuộc chỉ quy về một điều cốt yếu. Đức Phật từng nói con đường đó là tình pháp hữu, là cộng đồng. Người khác lại bảo đạo Phật là trí tuệ, hay lòng từ bi, hoặc thiền định.
Còn tôi, tôi nghĩ tất cả đều quy về cái chết.
Hãy nhìn vào những nguyên lý nền tảng của Phật giáo. Cho dù chúng ta có nói cách nào chăng nữa, thêm hay bớt, đụng chạm hay tránh né, thì thực chất các giáo pháp của Phật đều xoay quanh cái chết.
“Vạn vật đều vô thường,” Đức Phật đã dạy như vậy. Nghĩa là tất cả đều sẽ chết.
“Mọi sự vật do duyên hợp đều tan rã.” Mọi thứ đều đổ vỡ. Và rồi mọi thứ cũng sẽ chết.
Vô ngã (Anatman) – không có linh hồn. Bên trong chúng ta không hề có một cái “tôi” nào mà không chết.
Từ bản ngã sanh ra khổ đau – từ ảo tưởng về một cái “tôi” trường tồn và từ những việc chúng ta làm để bảo vệ cái “tôi” đó.
Hay từ sự bám víu – cố nắm giữ mọi thứ bất chấp thực tế là vạn pháp sẽ chết, và ngay cả chúng ta cũng vậy.
Về căn bản, Tứ Diệu Đế quy về một sự thật rằng chúng ta và vạn vật đều sẽ chết, và chúng ta đau khổ vì không muốn chấp nhận điều đó. Nói cho cùng, luân hồi chẳng qua là sự chối bỏ cái chết, còn giác ngộ chính là sự chấp nhận nó.
Trong Phật giáo, nguyên nhân căn bản của khổ đau được cho là vô minh. Nghĩa là chúng ta không hiểu được bản chất đích thực của chính mình và của thế giới chung quanh. Nhưng đúng hơn là chúng ta không muốn hiểu bản chất thực sự của thực tại, nên chúng ta tự tạo ra một thực tại giả tạo theo ý mình muốn – một thực tại cho phép chúng ta phủ nhận cái chết.
Sự vô minh này được củng cố bằng sự đóng băng, tạo ảo tưởng về sự trường tồn. Chúng ta đóng băng nhận thức của mình và xây dựng một thực tại giả tạo gọi là luân hồi; trong thực tại đó, mọi sự vật đều tách biệt, độc lập và mang một phần bản chất cố định, vĩnh cửu ở cốt lõi. Như đạo sư Tây Tạng Chögyam Trungpa (1939-1987) từng nêu ra, sự vô minh của chúng ta thực ra lại vô cùng tinh vi và thông minh. Nó cho phép chúng ta tạo ra một cái “tôi” và cả một thế giới với vẻ ngoài kiên cố, giúp chúng ta làm điều mình khao khát nhất: phủ nhận sự thật về cái chết.
Xưa Thiền tông có một câu răn dạy: “Đừng chồng thêm một cái đầu lên trên cái đầu sẵn có,” nghĩa là đừng đặt một cái “tôi” giả tạo lên trên cái “tôi” chân thật, và đừng đặt một thực tại giả tạo lên trên thực tại chân thật. Bởi vì có một sự mâu thuẫn trớ trêu là: phủ nhận cái chết cũng chính là làm sự sống bị khô héo.
Bản chất của sự sống là sự thay đổi, tính vô thường, là sanh và diệt. Phủ nhận điều đó, chúng ta buộc phải biến mọi thứ thành những gì cố định, bị thu hẹp, bất động – tức là biến chúng thành cái chết. Chúng ta không thể chối bỏ cái chết mà không đồng thời chối bỏ sự sống. Nhưng khi chấp nhận thực tại của cái chết – hay nói cách khác là sự thay đổi – chúng ta mở lòng mình ra với sự sống trong bản chất trọn vẹn và chân thực nhất của nó. Cuộc sống đích thực ấy – cuộc sống không thể tách rời khỏi cái chết – vốn sống động, năng động, đầy sự kết nối, cởi mở và thiêng liêng. Đó là cuộc sống đáng sống. Một cuộc sống đáng để chúng ta yêu thương.
Chính nơi đó chứa đựng nỗi đau khổ của chúng ta. Tình yêu và sự mất mát luôn gắn liền với nhau. Chúng ta không thể có cái này mà thiếu cái kia. Việc dung hòa hai điều này là sứ mệnh của trái tim đầy tổn thương, và chẳng có triết lý nào – dù là Phật giáo hay bất cứ trường phái nào khác – có thể làm thay chúng ta điều đó. Thế nên, như Kobayashi Issa (1763-1828), một bậc thầy thi sĩ Tịnh Độ Nhật, đã viết bài thơ hài cú này sau khi cô con gái mới hai tuổi qua đời:
Tsuyu no yo wa
tsuyu no yo nagara
sari nagara
Anh dịch:
This world of dew
Is a world of dew
And yet, and yet…
Việt dịch:
Thế gian này như giọt sương mai
Thế gian là giọt sương mai
Vậy mà, vậy mà…⧫
(Nguồn: Tạp chí Lion’s Roar tháng 9, 2021, Phúc Quỳnh chuyển ngữ)


Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.