(Lời tòa soạn: Bài viết dưới đây –trích từ tạp chí Viên Giác số 273 tháng 6, 2026– là về pháp môn Tịnh Độ Truyền Thống theo ngài Trí Khải. Còn có pháp môn Tịnh Độ Thuần Chánh thâm sâu hơn theo ngài Thiện Đạo.)
Bài CHÚC THANH
Pháp môn Niệm Phật bắt nguồn từ quan niệm và thực tiễn hành trì của pháp môn Thiên Thai Tông. Người Trung Hoa khi xưa tôn thờ Phật Pháp Tăng theo quan niệm Thiên Thai Tông của tổ sáng lập Trí Nghi, sau đó, qua bao thay đổi qua bao triều đại, tới tổ Trí Khải, người Hoa tôn thờ ngài là Đại Sư Trí Khải. Đại Sư Trí Khải làm cho tinh thần này sáng tỏ hơn, khúc triết hơn học thuyết Thiên Thai Tông. Từ đó các trường phái của Phật giáo đồng thời có điểm tựa vững vàng có giáo pháp chuyển mình và phát khởi mạnh mẽ.
Đại Sư Trí Khải kết hợp tư tưởng đại thừa với triết học nhân sinh, bổ túc thêm quan niệm nho giáo và đạo giáo tạo nên một hệ thống tư tưởng đạo, đời hoàn chỉnh, dung hợp. Đạo đi vào đời và đời hành đạo sáng suốt nghiêm chỉnh theo tôn chỉ chỉ quán, đó là phương pháp tu tập quan trọng nhứt. Trong Thiên Thai Tông, cũng như trong Tịnh Độ Tông sau này, việc niệm Phật là một phương pháp trợ duyên và cũng là pháp môn tu tập trọng yếu nhứt.
Thiên Thai Tông tự ngàn ngàn xưa của Đại Sư Trí Khải là một hệ thống giáo lý quy mô, có tính triết học cao siêu, qua rất nhiều kỷ nguyên, luôn tập trung chủ yếu vào nghiên cứu giáo nghĩa và giáo pháp và pháp nghĩa.
Trong bối cảnh xã hội, cộng đồng, đại chúng, có lúc, từ khó hiểu nổi, đại chúng coi như Thiên Thai Tông có phần mơ hồ, khó thực hiện. Phương pháp quán tâm có lẽ khó hành trì và phần nào bị lu mờ trước sự khai mở mạnh mẽ của thiền tông.
Từ đó tư tưởng tịnh độ của Thiên Thai Tông dần dần được thâm nhập vào hệ thống tư tưởng của Tịnh Độ Tông một cách vững vàng thoải mái và phát khởi rộng rãi trong quần chúng Phật tử khắp nơi. Pháp môn Niệm Phật ngày nay và cũng tự ngàn xưa khi thâm nhập vào đại chúng Phật giáo, một khi chuyển biến, và được phổ biến, được xem như đặc trưng chung của Phật giáo, không còn mang dấu ấn biệt lập của Thiên Thai Tông… đó là quy luật thay đổi không ngừng của vạn vật và của cả tư tưởng cho quy hợp với đời sống và thời đại nhân sinh. Quan điểm niệm Phật phù hợp với lý, sự và cơ duyên trong mọi hoàn cảnh xã hội.
Ngày nay, trong một xã hội đầy biến động, biến động không ngừng, làm sao để chúng ta không bị ngoại cảnh chi phối?
Thưa, pháp môn niệm Phật bây giờ được coi như một phương tiện quan trọng giúp Phật tử chấm dứt mọi vọng tưởng khổ sở, hiển lộ diệu trí và quán sát công đức của Như Lai.
Hay nói cách khác, chỉ quán đây chính là phương pháp tối thượng giúp người tu hành, hành giả đạt được trí tuệ bát nhã. Rồi hành giả đồng thời được an trú trong diệu trí an lạc đó.
Như Lai đi tự thuở nào,
Bổn lai vô xứ biết đâu con cầu?
Cửa thiền mở ngỏ từ lâu,
Hai đầu vô trụ cửa không con vào!
Thưa là ngày nay chúng ta vướng mắc nhiều tham ái vật chất, quy tụ bởi tham sân si, thường mắc phải những bệnh lý về thể chất và tinh thần như mất ngủ, lo âu, căng thẳng, mà nguyên nhân không đơn thuần xuất phát từ môi trường rối loạn bên ngoài, mà có lúc chúng liên quan đến những chướng ngại nội tại như phiền não chướng và sở tri chướng, quả vậy, một người hiểu biết nhiều, có lúc cũng khổ đau vì những quan sát nhận biết từ xung quanh bản thân chúng ta là một con người nhập thế tục… không phải là một vô hình hay một vật thể, một đầu đạn bay lơ lửng trong không gian. Theo Ma Ha chỉ quán, thân và tâm là một thể thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trạng thái của thần thể ta phản ảnh mức độ thanh tịnh hay ô nhiễm của tâm thức… khi chiến tranh bùng nổ ồ ạt, đầu óc con người nhiều ít bất an, có lúc vui buồn vơ vẩn mặc dù chiến tranh không sát gần một bên dù vô tâm đến mấy, ta cũng có lúc chạnh lòng nghĩ tới con người trong binh đao khói đạn hiểm nguy khôn lường! Và có người tự sâu thẳm thầm kín niệm: “Nam mô thanh tịnh đại hải chúng bồ tát!”
Khi tâm thanh tịnh nhờ quá trình tu tập, thân thể con người sẽ chuyển hóa tương ứng. Hiện tượng bệnh tật, lo, buồn, khổ, là do những biểu hiện của sự chuyển hóa giữa thân và tâm.
Để đạt được niệm Phật tam muội, người tu tập cần điều hòa thân tâm, tích lũy tư lương là những hiểu biết vào đạo, đồng thời sử dụng chánh niệm và trí tuệ có được đó, vận dụng áp dụng vào đời sống hàng ngày, như ăn, mặc, ở, đi đứng, đối thoại nhằm làm tốt hơn là cải thiện chất lượng cuộc sống.
Dưới tầm nhìn của giáo dục, pháp môn niệm Phật có thể được coi là một phương pháp giáo dục thẩm thấu, trong đó toàn bộ thân và tâm của hành giả được hòa nhập vào môi trường tu tập; giúp phát triển nội lực một cách tự nhiên và thoải mái. Pháp môn niệm Phật trong Tịnh Độ Tông nhấn mạnh hai yếu tố:
1. Kiểm soát thân tâm, người đang niệm Phật cần đối trị là xua đuổi tránh xa các phiền não nội tại, cũng tránh để môi trường bên ngoài tác động đến sự tĩnh lặng của tâm thức, có nghĩa là không quan tâm đến các sự việc xảy ra bên cạnh và xung quanh ta.
2. Chọn lựa một môi trường phù hợp, vì môi trường này có thể là trợ duyên, mà cũng có thể là chướng ngại cho quá trình tu tập. Vậy Ma Ha chỉ quán không đơn thuần coi nặng việc trì đọc danh hiệu các vị phật, mà bên cạnh, điểm cốt tủy hơn, là để cốt chuyển hóa nội tâm, giúp người trị tụng đạt đến nhất tâm bất loạn, từ đó hướng về tịnh độ và chân lý.
Bên cạnh hai yếu tố chánh đó, ngoại lực cũng đóng vai trò quan trọng trong pháp môn Niệm Phật.
Ngoại lực ở đây bao gồm môi trường tu tập, là nơi hỗ trợ cho người tu học mau đạt đến nhất tâm. Còn có các phương pháp: Thường hành Niệm Phật, là Niệm Phật khi đi; Thường tọa Niệm Phật là Niệm Phật khi ngồi.
Nói tóm lược, đạt tới nhất tâm bất loạn, là để thành tựu tịnh độ, đó là trọng tâm của pháp môn Niệm Phật, mục đích ráo riết và tối hậu trong quá trình học Phật và tu tập của hành giả.
Xin chân thành tri ân tác giả Thanh Thảo qua các tài liệu:
A Di Đà Kinh Sở; San Định Chỉ Quán; Tư Tưởng Tịnh Độ của học giả Lê Hữu Tuấn
Paris, mùa xuân 2026⧫

Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.