Bài HOÀNG MAI ĐẠT
Cuộc đời là cơn mộng, tôi thường tự nhắc mình. Đời là mộng, hãy nhớ nhé. Có lẽ nhờ tự nhắc như vậy mỗi ngày nên tôi được bình tâm trước những bi kịch của kiếp người xảy ra cho chính mình –ít nhất là trong kiếp này– coi chúng có chăng chỉ là mấy giấc mơ lẻ đơn trong một cơn mộng dài nhiều kỳ, nhiều kiếp: Mất việc, sáng đi làm, chiều nghe sếp báo tin “thôi về đi, đường trần đâu có gì”*; Mất người thân, còi xe cấp cứu kêu inh ỏi trước nhà, hàng giờ niệm Phật trong nhà thương bên giường bệnh, mấy chục năm thân thiết nay chỉ là những vọng niệm về quá khứ; Mất quê hương, đạn pháo kích từng đêm trút xuống đường phố, quan tài được phủ cờ vàng cho binh sĩ tử trận trong đó có cha mình, những cụm mây trắng ở xứ người trôi ngập ngừng về miền tuổi thơ trên bãi cát trắng. (* Lời bài ‘Phôi Pha’ nhạc Trịnh Công Sơn.)
Mà cũng nhờ tự nhắc nên tôi không quá phấn khởi trước những hạnh phúc vốn mong manh đến trong cuộc sống, như được bế đứa con đang khóc tiếng chào đời, nhận việc mới giữa một khung cảnh hoàn toàn xa lạ, vợ vừa thoát một cơn bạo bệnh, viết được một truyện ngắn đầu tay.
Đời là mộng, hãy giữ tâm bình thản trước mọi hoàn cảnh, đừng quá vui, cũng chẳng nên quá buồn. Biết vậy mà tôi vẫn xúc động trước hai hình ảnh diễn ra ở hai nơi xa hàng nghìn dặm, với hai người không quen biết nhau nhưng cùng là bạn thân của chúng tôi. Họ đều có một tâm hồn nghệ sĩ, một con tim yêu thương cuộc sống và mong cho quê hương Việt Nam được tự do, thịnh vượng. Họ biết chơi đàn guitar.
Đầu tháng Sáu vừa qua tôi “được” nghỉ vài tuần không lương vì sở không có việc. Tận dụng thời gian này chúng tôi quyết định bay qua New York thăm con gái và con rể, để được ẵm bồng đứa cháu ngoại mới sanh. Lúc này đi xa là chuyện không dễ, vì sức khỏe chúng tôi đã sa sút hơn trước khá nhiều. Nhưng không đi lúc này thì e rằng tình huống mỗi ngày một tệ thêm, đi xa càng khó hơn trong tương lai.
Thế nên chúng tôi đành chịu những cơn đau của thân thể trong các chuyến bay chật cứng hành khách xuyên nội địa. Đáp lại, mấy ngày sống chung với con trong một căn chung cư ở Brooklyn đã là một niềm vui không chờ đợi cho ông bà ngoại từ California. Trước khi rời Miền Đông, chúng tôi đáp một chuyến xe lửa Amtrak thăm vợ chồng anh chị bạn ở ngoại ô Philadelphia. Lần chót chúng tôi tới nhà anh chị Đ-T ở Hatfield là hơn 20 năm trước.
Tôi xúc động khi thấy anh Đ đứng ở cửa chờ chúng tôi khiêng vali vào nhà. Anh từng là người nhanh nhẹn, giọng khỏe, hát cả giờ không biết mệt. Nhưng sau ba tháng nằm nhà thương vì bị viêm phổi và vì các chứng bệnh khác, người yêu quê hương miền Trung 74 tuổi này đã thấm mệt, chỉ đủ sức đứng mừng khách bằng một nụ cười tươi vui và ánh mắt rạng rỡ.
Vậy mà sáng hôm sau, như được truyền vào người một nguồn năng lượng nhiệm mầu, anh Đ đã có sức lái xe đưa chị T và chúng tôi đến dự buổi họp mặt Chợ Quê được tổ chức trong sân sau nhà rộng như sân banh của một thành viên trong nhóm Du Ca Lam Sơn. Trưa hôm đó vợ chồng chúng tôi được thưởng thức những giọng ca tuy địa phương nhưng điêu luyện và truyền cảm như các ca sĩ thành danh tiếng Việt. Và đặc biệt là tiếng hát và tiếng đàn của anh Đ, con chim đầu đàn của nhóm Du Ca. Anh ôm cây đàn guitar, gập người xuống, ngẩng người lên, lúc nghiêng qua trái, khi quay qua phải, tay nhanh nhẹn bấm các phím đàn, mắt nhắm nghiền như ở một cõi khác, khi trình diễn các bài hát hùng hồn, đầy khí thế như ‘Du Ca Lam Sơn Hành Khúc’ do chính anh sáng tác, hay ‘Việt Nam! Việt Nam!’ của nhạc sĩ Phạm Duy. Xế trưa, vì lý do sức khỏe, bốn chúng tôi rời tiệc sớm. Trong bữa ăn tối hôm đó, tôi nghe chị lặp lại mấy lần, “Anh Đ ngộ lắm em, khi ôm cây đàn thì tự nhiên anh sống động hẳn lên, trở thành một con người khác, rất nghệ sĩ.”
Rất nghệ sĩ. Hình như anh không hề để ý tới nhận xét của chị, mắt mỏi mệt nhìn vào khoảng không trước bàn ăn, nhưng lời nhận xét đó là ấn tượng sâu đậm nhất tôi có về anh Đ. Trở lại Nam California, tôi có dịp lên mạng xã hội và tình cờ xem một buổi trình diễn của nhóm Du Ca Lam Sơn nhân lễ Giáng Sinh. Đêm đó anh Đ vừa hát vừa gảy đàn, nhún nhảy nhịp nhàng, xoay người 360 độ theo tiếng nhạc trông rất điệu nghệ. Rất nghệ sĩ.
Rồi gần hai tuần sau, cũng qua màn hình điện thoại, tôi được chứng kiến hình ảnh một người bạn khác gảy đàn và cất tiếng hát, cũng rất nghệ sĩ, nhưng buồn hơn rất nhiều.
Với lý do tương tự là “nếu không lên thăm chị lúc này thì mai mốt sức khỏe càng yếu hơn, khó đi xa, càng khó gặp mặt,” chúng tôi lái xe từ Quận Cam lên San Jose thăm chị L. Chồng chị mới mất cách đây mấy tháng, sau nhiều năm phấn đấu với bệnh Parkinson’s Disease (PD), hưởng thọ 82 tuổi. Vợ tôi cũng bị bệnh Parkinson’s hơn sáu năm, nên chị L và vợ tôi vẫn thường chia sẻ với nhau về cách đối phó bệnh, thuốc chữa trị, các triệu chứng, biến chứng phụ của bệnh. Parkinson’s không chỉ hành hạ như muốn tiêu diệt thể xác, thần kinh hệ mà cả về tâm lý của người bệnh. Và người nhà của bệnh nhân cũng bị ảnh hưởng lây, về tâm lý lẫn thể xác, thân nhân không thể không đau lòng khi thấy chồng hoặc vợ mình bị đau nhức suốt ngày, suốt đêm.
Có lần chị L kể, “Anh H rên rỉ vì bị đau nhức rất khó chịu, không muốn ăn cho dù bị giảm cân mấy chục pao. Chị hỏi ‘Anh đau ở đâu? Anh tả cho em nghe đi’ thì anh nói ‘Đau như bị vọp bẻ toàn thân, chỗ nào cũng đau nhức.’”
Anh chị H-L thuộc một gia đình có mấy thế hệ theo Hướng Đạo, sống với tinh thần tự lập, phương châm ‘Sắp Sẵn’ và khẩu hiệu làm việc lành của Hướng Đạo. Lần cuối cùng chúng tôi lên San Jose thăm anh chị là mười-ba năm trước. Khi ấy anh H đã vướng bệnh nhưng chưa nặng lắm. Vả lại, trước khi tiếp khách anh thường dùng thuốc để đè nén các triệu chứng như run rẩy tay chân, đơ cứng dáng đi, tránh cho khách biết bệnh tình, nên chúng tôi không thể thấy sự tác hại của bệnh. Tài tử Michael J. Fox từng kể khi mới mắc bệnh Parkinson’s, anh cũng thường vốc một mớ thuốc vào miệng trước khi bước vào sàn đóng phim, để không ai hay biết anh bị chứng bệnh yêu quái này.
Trong mấy năm cuối đời, anh H thường tránh gặp bạn bè, quyết chiến với bệnh dù từng ngày bị chế ngự bởi hung thần Parkinson’s. Khó ăn, khó ngủ, không thể nói ra lời, chỉ có đau nhức, chán đời. Tuy vậy, như một số người bị PD, anh H không tuyệt vọng, đã chiến đấu tới cùng. Anh cố gượng đứng dậy và bước đi cho dù bị té quỵ trước khi đi được bước đầu. Chị L đã cùng chiến đấu với anh, 24 trên 24, tận tụy thức từng đêm, từng ngày để lo thuốc, lo vệ sinh cho chồng. Trước ngày ra đi vĩnh viễn, anh cố gắng thốt lên mấy lời mà chị nghĩ là anh muốn nói rằng anh không muốn chị vướng bận thêm nữa vì anh, rằng anh muốn chị được tự do, có một cuộc sống mà không phải lo cho chồng.
Nhưng tình nghĩa vợ chồng không thể sớm dứt lìa với một lời nhắn nhủ như thế. Trong gần hai ngày thăm chị L, sống trong không gian mà anh từng chia sẻ với chị, tôi cảm được tình thương mà anh chị từng trao cho nhau, từ khu vườn nhỏ ngoài sân, ghế sofa trong phòng khách, tranh ảnh, lịch treo trên tường, đến bàn ăn, cửa tủ lạnh, nơi đâu cũng có dấu vết anh để lại.
Khi đứng trong bếp soạn trái cây cho chúng tôi, chị cố kềm chế nhưng nước mắt vẫn lăn xuống má, chỉ tay vào một chiếc ghế kê sát tường cạnh bàn ăn, nói, “Mỗi lần chị nấu ăn thì anh luôn ngồi ở đó, không làm gì hết, chỉ ngồi đó thôi. Có người ngồi đó là đủ rồi, không cần phải trò chuyện gì hết. Mà bây giờ thì …” Chị lấy tay lau nước mắt, nói tiếp, “Hai em biết chị rất cứng cỏi, không bao giờ khóc, con cháu không bao giờ thấy chị khóc, nhưng bây giờ chị không kềm được, xin lỗi hai em.”
Sau một hồi im lặng, chị mở điện thoại, quẹt tay vài lần rồi nói với giọng còn nghẹn, “Chị cho hai em xem cái này. Hôm đó anh bỗng lấy cây đàn và chơi đàn cho chị nghe. Chị thâu được một chút thì anh nói bữa khác anh khỏe thì sẽ chơi hết bản nhạc, anh dặn chị nhớ thâu cho anh. Rồi từ đó anh có bao giờ khỏe lại đâu.”
Trong hình video dài chừng một phút, người anh gầy yếu của chúng tôi ngồi trên sàn nhà, cố gắng gảy đàn guitar, hát không rõ tiếng nhưng cố theo đúng nhịp. Anh ngồi gập cong người, ôm cây đàn như nhân vật trong bức tranh nổi tiếng ‘Nhạc Công Guitar Già’ của Pablo Picasso. Hình ảnh anh H sống động hơn ông lão trong tranh Picasso, gập ghềnh thân người theo điệu nhạc, và cũng cảm động hơn vì anh cố gắng cất tiếng hát lên cao bên trên bàn tay của hung thần PD đang chèn cổ họng và cơn đau của bệnh.
Chúng tôi lắng nghe những mẩu chuyện chị L kể về anh H, một người luôn ấp ủ những lý tưởng cho một Việt Nam thật sự tự do, dân chủ, có lúc chúng tôi vui cười cho không gian trong nhà được ấm cúng. Trước khi về, chúng tôi chụp hình lưu niệm trong khu vườn nhỏ và gốc cây có bóng mát mà anh H rất ưa thích.
Về đến nhà được mấy ngày, tôi vẫn không quên hình ảnh anh H ôm cây đàn. Không thể quên. Anh và cây đàn là một. Và trước đó tôi cũng có ấn tượng về anh Đ “rất nghệ sĩ” với cây đàn. Họ ôm chặt cây guitar vào người, thể hiện những gì không thể nói trong tâm hồn qua tiếng gảy đàn. Có phải âm nhạc đã đưa họ đến –hay trở về– một nơi cao thượng hơn cõi trần gian?
Còn tôi, cái gì có thể đưa tôi về một nơi cao thượng bên ngoài cõi mộng này? Tôi không biết đàn, không biết hát, chỉ biết một câu niệm Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Có lẽ niệm Phật sẽ là chiếc bè đưa tôi đến bờ giác. Đôi lúc tôi niệm Phật cho đến khi chỉ còn nghe một tiếng niệm liên tục, và rồi không còn nghe gì hết. Tỉnh dậy, không biết mình vừa thức sau một cơn hôn trầm hay đang quay lại với một giấc mơ. Ngẩn ngơ. Đời là mộng, đừng quên nhé! Mộng là đời, làm sao quên?⧫


Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.