Bài CLAYTON DALTON
(Cuộc chiến Gaza bắt đầu vào tháng 10, 2023 khi quân Hamas tấn công Israel. Trong cuộc phản công dữ dội sau đó, Israel xâm chiếm Gaza và thường xuyên pháo kích nơi đây. Từ đó đến nay số tử vong đã lên tới trên 70,000 người mà hầu hết là thường dân. Bài viết này được đăng báo Lion’s Roar ngày 28 tháng 7, 2026, Phúc Quỳnh chuyển ngữ.)
Mấy tuần trước tôi gặp một bé trai sáu tuổi mà tôi gọi là Joseph, tại phòng cấp cứu nơi tôi làm việc ở miền tây tiểu bang New Mexico. Một cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc địa phương đã đưa em đến đây. Trước khi tôi vào, người giám hộ tạm thời đi cùng em trai kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra. Joseph đã ở trong xe với gia đình. Mẹ em là người lái xe. Bà đã uống rượu. Đột nhiên bà ấy lạc tay lái; chiếc xe phóng ra khỏi đường, bị lật trên nền đất đỏ phủ đầy cây xô thơm.
Joseph bị văng ra ngoài qua cửa sổ đang mở. Em bay lên không trung, rơi xuống cách xe một khoảng xa. Vì một lý do nào đó, em không hề hấn gì. Em đứng dậy, quay trở lại xe, nơi em kể rằng em đã thấy những người trong gia đình mình đang “ngủ.” Nhà họ nằm cách đó không xa, vì vậy em đi bộ về nhà để tìm người cứu giúp. Những người khác trong xe hoặc đã thiệt mạng hoặc đã được đưa đến thành phố Albuquerque bằng máy bay để giải phẫu khẩn cấp. Chúng tôi không biết điều gì xảy ra cho họ.
Tôi nhìn vào bên trong phòng của đứa bé qua cánh cửa kính. Em đang ngồi thẳng trên giường, chiếc mền trắng được kéo lên đến cằm, mắt nhìn xa xăm. Trông em nhỏ bé, cô đơn giữa phòng. Chúng ta nghĩ gì về khoảnh khắc như thế này?
May mắn Joseph không bị thương nặng, chỉ có vài vết trầy xước. Nhưng em đã phải trải qua một biến cố kinh hoàng, trong hoàn cảnh không phải lỗi của em. Biến cố này sẽ thay đổi đời em như thế nào? Còn mẹ em thì sao? Ít nhất đối với tôi, một cảm giác muốn tìm lỗi, muốn phán xét khởi lên. Có lẽ cả sự tức giận nữa.
Tôi nhớ một bệnh nhân khác mà tôi đã chữa trị cách đây vài năm. Một phụ nữ khoảng bốn-mươi tuổi. Bà ấy cũng bị lật xe và say rượu đến mức không thể kể lại chuyện gì đã xảy ra. Bà đã suýt tự giết mình hoặc giết người khác. Quá liều mạng.
Khi bệnh nhân đủ tỉnh táo để nói chuyện, tôi được biết thêm về cuộc đời của nữ bệnh nhân. Bà từng là một thám tử chuyên điều tra tội phạm tình dục, và công việc đó đã ám ảnh bà. Uống rượu là cách làm cho bà ngưng bị ám ảnh. Hóa ra tai nạn là một nỗ lực để tự tử. Tôi bớt phán xét, nhìn rộng hơn về cuộc đời bà, và từ đó có thể cảm thấu hơn nỗi đau khổ của bà.
Tôi nghĩ về hai phụ nữ này. Tôi đã không biết gì về mẹ của Joseph. Kinh nghiệm nào đã khiến bà đã lái xe trong tình trạng say rượu, với cả gia đình ở trong xe? Tôi không biết. Nhưng có lẽ bà cũng sẽ có điều gì đó tương tự để kể cho tôi nghe nếu bà là bệnh nhân của tôi. Có lẽ cái nhìn của tôi về bà cũng sẽ rộng mở hơn.
Tôi có rất nhiều câu chuyện như thế. Tôi gặp những người ở thời điểm then chốt trong cuộc đời, khi toàn bộ quá khứ của họ dồn lại thành một khối kim cương khủng khiếp – cực kỳ cứng, cực kỳ sắc bén – chiếu sáng mọi thứ và thường thay đổi cả tương lai của họ.
Khi nói nó soi sáng mọi thứ, tôi muốn nói đến lý duyên khởi. Đây là giáo lý của Đức Phật dạy rằng mọi thứ đều phát sinh từ một mạng lưới nhân quả phức tạp. Mạng lưới luôn luôn lớn hơn rất nhiều so với bất cứ một cá nhân nào. Nó có kích thước bằng cả vũ trụ.
Công việc ở phòng cấp cứu minh họa nguyên tắc này cho tôi. Tôi bắt đầu cảm nhận, dù chỉ là mơ hồ, một mạng lưới với bối cảnh rộng lớn hơn mà tất cả chúng ta đang sống ở trong đó. Đằng sau sự liều mạng, đằng sau sự giận dữ, đằng sau sự thù hận, đằng sau những lời lẽ cay độc là một chuỗi sự việc rộng lớn gồm các nhân duyên. Nhìn từ quan điểm đó, tôi thấy rằng sự phán xét thường được chuyển hóa. Tôi có thể nhìn rõ hơn gốc rễ của sự đau khổ trong những khoảnh khắc ấy. Đằng sau sự giận dữ là đau khổ. Đằng sau sự liều mạng là đau khổ. Đằng sau bạo lực là đau khổ. Đằng sau đau khổ là đau khổ.
Thiền Sư Đạo Nguyên Hi Huyền (Dogen Kigen, 1200-1253) người Nhật từng kể một công án nổi tiếng là “Bách Trượng Dã Hồ” (chồn hoang núi Bách Trượng). Bách Trượng là tên của một vị thiền sư ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ tám. Một ngày nọ, một ông lão xuất hiện tại một trong những bài giảng của thiền sư. Thấy ông lão, Thiền Sư Bách Trượng hỏi, “Ông là ai?”
Ông lão nói, “Tôi từng là một thiền sư và trụ trì ở ngọn núi này. Một đệ tử hỏi tôi rằng liệu người giác ngộ có phải tuân theo quy luật nhân quả hay không. Tôi đáp, ‘Không, người giác ngộ không phải tuân theo quy luật nhân quả.’ Vì câu trả lời này, tôi đã hóa thành con cáo trong năm trăm kiếp. Giờ tôi hỏi ông: Người giác ngộ có phải tuân theo quy luật nhân quả không?”
Bách Trượng đáp, “Người giác ngộ không mù quáng trước quy luật nhân quả.”
Nghe vậy, ông lão liền ngộ ra. “Giờ tôi không còn là cáo nữa,” ông nói, “nhưng tôi phải bỏ lại thân xác cáo của mình phía sau ngọn núi này. Xin hãy làm lễ an táng cho nó.” Rồi ông biến mất.
Ngày hôm sau, Thiền Sư Bách Trượng dẫn các tăng sĩ ra phía sau ngọn núi đến một hang động, nơi họ tìm thấy xác một con cáo già, và họ đã chôn cất nó.
Không mù quáng trước quy luật nhân quả nghĩa là gì? Đối với tôi, tôi nghĩ điều đó có nghĩa là nhìn nhận mọi thứ một cách bao quát hơn, đặc biệt là đối với người khác. Tôi nghĩ điều đó có nghĩa là nhìn thấy nỗi đau khổ, và nguồn gốc của nỗi đau khổ, đằng sau bất cứ điều gì mà chúng ta né tránh, phán xét hoặc lên án. Tại sao điều này lại quan trọng?
Thứ nhất, tôi nghĩ điều này quan trọng vì đó là sự thật đang xảy ra. Đó mới là thực tế.
Thứ nhì, tôi nhận thấy có điều gì đó khởi lên khi bạn bắt đầu nhìn xét mọi thứ theo cách rộng lớn và bao quát hơn. Tôi nhận thấy, đôi khi khiến tôi ngạc nhiên, rằng lòng từ bi trỗi dậy trong không gian bao la này, giống như nước giếng từ bên dưới tràn đầy lên trên.

Chứng kiến cảnh đau khổ diễn ra ở Gaza, tôi cảm thấy có sự thôi thúc khiến tôi muốn đến đó để giúp đỡ. Tôi được đào tạo làm một bác sĩ cấp cứu – một nghề nghiệp hữu ích trong vùng chiến sự. Và thế là tôi đã đến đó vào tháng Giêng năm 2025. Thiền Sư Đạo Nguyên có một tác phẩm mang tên “Tọa Thiền Châm”. Trong một bài bình luận về tác phẩm này, thầy Mỹ Tenshin Reb Anderson nói rằng tọa thiền cũng giống như lấy một cây kim châm cứu để châm vào cuộc sống của chúng ta. Tôi nghĩ rằng sự thôi thúc muốn đến Gaza là một cách để châm một cây kim vào cuộc sống của tôi.
Và đúng là như vậy. Tôi tưởng mình đã hiểu phần nào về nỗi đau khổ khi phải vào phòng cấp cứu. Nhưng ở Gaza, tôi đã chứng kiến sự khổ đau ở một mức độ mà tôi không thể diễn tả được. Số bom thả xuống Gaza – một dải đất dài 25 dặm – đã nhiều hơn tổng số bom thả xuống London (Anh), Hamburg (Đức), và Dresden (Đức) trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Gaza là một bức tranh đồ khảm được ghép đầy những mảng tàn phá; mọi thứ đều bị ảnh hưởng. Ở những thị trấn xa nhất ở phía bắc, không còn một tòa nhà nào. Chỉ còn lại những đống đổ nát.

Tôi đã gặp những bác sĩ mất con, vợ, cha mẹ, ông bà, cả gia đình. Tôi đã gặp những y tá sống trong lều, nhịn ăn để con cái họ có thể ăn. Tôi đã gặp những bệnh nhân mất tay, chân, đôi khi cả tay và chân. Tôi đã gặp những đứa trẻ có ruột bị mảnh bom cắt toạc, và xương của chúng được giữ lại với nhau bằng những chiếc đinh kim loại nhô ra từ da.
Tôi cảm thấy như mình chỉ mới bắt đầu nhận thức được sức nặng của tất cả các nhân duyên dẫn đến cuộc xung đột này, những biến cố lịch sử, những quyết định, những sự kiện, tích tụ qua nhiều thập niên, nhiều thế kỷ. Thực ra là mãi mãi. Tôi gần như cảm nhận được tất cả đang xoay chuyển. Thật choáng ngợp. Tôi cũng cảm thấy như mình mới bắt đầu hiểu được tất cả những nhân duyên và quả báo trong tương lai sẽ như thế nào. Những nhân duyên mà tôi chứng kiến sẽ dẫn đến những khoảnh khắc tiếp theo, năm tiếp theo, thập niên tiếp theo ra sao. Chúng sẽ dẫn đến những hậu quả gì?

Có một khoảnh khắc khác mà tôi nhớ rất rõ. Chúng tôi đang đi qua một trạm kiểm soát ở Israel. Tôi đang ngồi trong một chiếc xe van với các đồng nghiệp, tất cả đều là bác sĩ người Mỹ gốc Ả Rập. Một nữ binh sĩ, chắc không quá hai mươi tuổi, bước lên xe chúng tôi. Cô ta đeo một khẩu súng trường tấn công trước ngực. Cô bắt đầu hét vào mặt chúng tôi bằng tiếng Do Thái. Không ai hiểu cô đang nói gì. Tôi nghĩ chúng tôi cũng không cần phải hiểu. Tôi có thể thấy rằng nguồn gốc của sự tức giận đang sôi sục bên trong cô, cố gắng bộc lộ ra ngoài, lớn hơn và sâu sắc hơn nhiều so với bản thân cô ta. Cô cũng đang đau khổ.
Tất cả những điều này gợi lại một ký ức bất ngờ. Vài năm trước, tôi đang đi bộ qua một cửa sông gần bờ biển tiểu bang Maine. Một con đê cao có đường lộ chạy ngang qua giữa. Nước ở cả hai bên dường như tĩnh lặng và hoàn toàn êm đềm. Rồi tôi để ý thấy một ống cống nối hai vùng nước bên dưới con đường. Nước đang chảy xiết qua đó, cuộn xoáy và sủi bọt trắng xóa khi tràn ra khỏi chỗ hẹp. Lúc đó thủy triều đang lên. Thủy triều không thể nhận thấy được ở vùng nước rộng hơn. Nhưng khi bị thu hẹp lại ở một điểm cụ thể, chuyển động của nó đã được bộc lộ.
Vùng chiến tranh, theo một cách nào đó, cũng giống như vậy. Chúng làm lộ ra những điều thường bị che giấu – rằng chúng ta nhận lãnh những quả báo mà không thể lựa chọn, rằng chúng ta hành động trong những hệ thống nhân quả lớn hơn bất cứ ai trong chúng ta.

Đối với hầu hết chúng ta, Gaza dường như rất xa xôi. Làm sao chúng ta có thể có liên hệ với nơi đó? Chúng ta có liên quan gì với nó không? Tầm quan trọng của nó như thế nào?
Khi tôi ở Gaza, một bác sĩ cho tôi xem trên điện thoại di động của ông một bức ảnh về một trái đạn hỏa tiễn màu xám khổng lồ nhô ra khỏi mặt đất trước nhà ông. Gia đình ông đang ở trong nhà khi nó rơi xuống nhưng không nổ. Một ký hiệu số được khắc trên thân hỏa tiễn. Tôi tra cứu hiệu số và được biết đó là một loại đạn dẫn đường nặng 250 pound do hãng Boeing của Hoa Kỳ sản xuất.
Đúng vậy, chúng ta có liên quan đến Gaza theo cách đó. Nhưng còn một cách khác mà cuộc chiến có liên quan đến chúng ta, liên quan mật thiết hơn đến việc tu hành. Thầy tôi, bà Roshi Joan Halifax, mô tả bản chất của mối quan hệ này như một chức năng của điều mà Thiền Sư Thích Nhất Hạnh gọi là sự tương liên.
“Mỗi khoảnh khắc là sự thể hiện của mọi khía cạnh của hiện thực,” bà Halifax viết. “Từ nhận thức này, kinh nghiệm sống hiện tại của chúng ta là sự biểu hiện trọn vẹn và không thể chia cắt của chính sự tồn tại đang diễn ra trong thời gian.”
Bà viết tiếp, “Chúng ta không tách rời khỏi những sự kiện đang diễn ra trên thế giới ngay lúc này. Chúng ta không tách rời khỏi những gì đang xảy ra ở Iran, Lebanon, Israel, Gaza, hay bất cứ nơi nào khác, gồm cả bạo động chiến tranh, bạo động diệt chủng, và công cuộc kiến tạo hòa bình.”
Vậy nên, chúng ta thực sự có liên quan mật thiết đến vấn đề này, mặc dù sự liên kết diễn ra ở khoảng cách rất xa. Đây cũng là vấn đề của chúng ta. Chúng ta sẽ làm gì với nó?
Khi tôi ở Gaza, đôi khi bệnh nhân hoặc bác sĩ cần sự trợ giúp y tế của tôi. Nhưng phần lớn, điều họ mong muốn là được công nhận. Họ cảm thấy họ vô hình, bị cô lập, bị lãng quên. “Xin hãy kể cho thế giới biết về chúng tôi,” họ nói. Họ muốn chúng tôi làm chứng cho họ.

Việc làm chứng là một phần quan trọng trong truyền thống tu hành của tôi. Thầy Tetsugen Bernie Glassman, vị thầy của bà Halifax, đã tổ chức các khóa tu làm chứng chính thức tại trại tập trung Auschwitz. Ý tưởng là đến một nơi từng là nơi tăm tối cùng cực và chứng kiến nó.
Đây là những gì ông ấy nói về cách tu này: “Khi chúng ta chứng kiến, khi chúng ta hòa mình vào hoàn cảnh – vô gia cư, nghèo đói, bệnh tật, bạo lực, cái chết – hành động đúng đắn sẽ tự nảy sinh. Một khi chúng ta lắng nghe bằng toàn thân và tâm, hành động yêu thương sẽ hiển hiện.” Giống như nước chảy từ dưới lên lấp đầy giếng.
Ông Glassman cũng đã dạy, “Khi chúng ta làm chứng, chúng ta mở lòng đón nhận những gì đang diễn ra và học hỏi. Những điều mà chúng ta phủ nhận lại dạy cho chúng ta. Chúng ta không đến tìm chúng để dạy chúng. Khi chúng ta có thể lắng nghe, khi chúng ta có thể làm chứng, chúng sẽ dạy cho chúng ta.”
Bạn không cần phải đến trại tập trung hay Gaza để làm điều này. “Việc làm chứng không chỉ nên thực hiện ở Auschwitz,” thầy Glassman Roshi nói. “Khi chúng ta làm chứng trước sự việc diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, không né tránh bất cứ tình huống nào phát sinh, chúng ta học hỏi. Chúng ta mở lòng đón nhận thực tế. Và trong quá trình đó, sự chữa lành sẽ xuất hiện.”
Vậy nên, chúng ta có thể làm điều này ngay tại đây. Và nếu chúng ta không tách rời khỏi tất cả những gì tồn tại, thì việc làm chứng ngay tại đây là đủ. “Tọa thiền là một hình thức làm chứng cho cuộc sống,” Glassman Roshi nói. Chúng ta làm những gì chúng ta có thể làm.

Tôi còn một câu chuyện cuối cùng để kể. Một ngày nọ, tại nhà thương nơi tôi công tác ở Gaza, tôi gặp một người đàn ông tên là Abdullah. Ông ấy chỉ hơn tôi vài tuổi. Ông sống trong hành lang của nhà thương, không có gì ngoài vài tấm mền.
Nhà của ông đã bị phá hủy trong một cuộc không kích vào tháng 11, 2023. Hai-mươi người trong gia đình ông đã thiệt mạng. Chỉ có ông và đứa con trai bốn tuổi sống sót. Con trai ông bị thương nặng và được đưa đến xứ Tunisia để điều trị. Ông Abdullah không có cách nào liên lạc với con trai. Ông không biết liệu có bao giờ gặp lại con nữa hay không.
Tôi hỏi ông sẽ ở lại bệnh viện trong bao lâu. Ông nói, “Chẳng còn nơi nào để đi. Chẳng có gì để làm, chẳng có gì để có, chẳng có gì để mất.”
“Không có cuộc sống,” ông nói.
Dù vậy, ông vẫn giữ nụ cười tươi tắn suốt phần lớn trong cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi hỏi ông làm sao mà vẫn có thể mỉm cười được, sau tất cả những gì ông đã trải qua. Ông nói với tôi rằng ông không cười cho bản thân mình. Lòng ông đã tổn thương. Ông cười để làm cho người khác được vui.
“Không phải cho tôi,” ông nói, “mà cho anh.”
Tôi sững sờ, và trong giây lát, không nói nên lời. Tôi đã nhiều lần nhớ lại giây phút ấy. Nó gợi cho tôi nhớ đến một câu chuyện về thi sĩ/thiền sư Lương Khoan (Ryokan, 1758–1831) người Nhật. Một đêm nọ, một tên trộm đột nhập vào am tranh của Lương Khoan. Ông sống đạm bạc và trong am tranh chỉ có một tấm mền. Đó là tài sản duy nhất của ông. Ông cảm thấy thương xót tên trộm vì biết rằng trong am chẳng có gì để hắn lấy. Lương Khoan không thể chống cự; ông đã đưa tấm mền cho tên trộm. Khi kẻ trộm rời đi, ông đã viết bài thơ:
Kẻ trộm đã để lại
Một vầng trăng bên cửa sổ.
Tội nghiệp hắn, ước gì tôi có thể tặng hắn vầng trăng đó!
Tôi nghĩ về ông Abdullah sống lay lắt trong hành lang của một bệnh viện đổ nát ở Gaza, không có gì ngoài mấy tấm mền. Không có gì để có, không có gì để mất. Không có cuộc sống. Ông thậm chí không có cả một vầng trăng. Hay là ông có?
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dạy rằng khoảnh khắc hiện tại chứa đựng cả quá khứ và tương lai. Thầy viết: “Bí quyết của sự chuyển hóa nằm ở cách chúng ta xử lý khoảnh khắc này,” bất kể hoàn cảnh của chúng ta ra sao. Thiền Sư Glassman Roshi diễn đạt điều đó như sau: “Hành động của chúng ta – dù tạo ra hòa bình hay chiến tranh – đều vang vọng khắp vũ trụ này.” Và giờ đây, nụ cười của ông Abdullah hiện diện ngay trong khoảnh khắc này, vang vọng khắp vũ trụ. Nụ cười đó cũng là một phần trong cuộc sống của bạn, dù bạn đang đọc bài viết này ở bất cứ đâu.
Không phải cho tôi, mà cho bạn.⧫

Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.