Bài TRÍ TÁNH
(Xin đăng lại như một lời ai điếu muộn màng, để kỷ niệm một chuyến đi xuyên Việt năm xưa với bạn hiền Bùi Hồng Quang, nay đã “giã từ vũ khí”, nhẹ bước thênh thang ở một quốc độ khác … Trí Tánh)

… Vì vậy tôi thường ước mơ được thực hiện một chuyến du khảo điền giả bình thường, giới hạn trong một chủ điểm đặc thù, và khoanh vùng trong một đối tượng nhất định. May quá, vào tháng 11 một năm nọ, có một “phái đoàn” bốn Phật tử (hai trong nước và hai ngoài nước) thực hiện một chuyến đi xuyên Việt để mở rộng mạng lưới công tác từ thiện Phật Giáo của họ. Tôi xin tháp tùng với mục đích rõ ràng là chỉ đặt một câu hỏi tổng quát để lắng nghe nhiều câu trả lời chi tiết, từ nhiều người ở nhiều địa phương khác nhau, về một vấn đề nóng bỏng của Phật Giáo Việt Nam, một vấn đề mà hầu hết Phật tử đều canh cánh trong lòng:
Những yếu tố gì đã cản trở Phật Giáo Việt Nam chưa đóng đúng và đóng trọn vai trò của nó trong bước đồng hành với dân tộc và nhịp nhàng với thời đại ở giai đoạn nầy?
Câu hỏi quá lớn, quá tổng quát, và cố tình phê phán khiêu khích, thách đố người đối thoại phải lương thiện tra vấn tri thức để tự do bộc bạch tâm sự. Tri thức gì cũng được, tâm sự nào cũng xong. Tôi chọn câu hỏi đó cũng vì nó đánh động được vào những chỗ sâu thẳm nhất của một người Phật tử Việt Nam: Tình yêu Dân Tộc và sự gắn bó với Đạo Pháp, vốn là hai bản sắc đặc thù của Phật Giáo Việt Nam.
Câu hỏi thì lớn, mẫu khảo sát lại quá nhỏ khi so sánh với con số 7,000 chùa, 40,000 Tăng Ni và hơn 10 triệu Phật tử (theo Nhà Nước). Cho nên, hỏi thì cứ hỏi, trả lời thì cứ trả lời, tôi chỉ nhắm mắt lắng nghe để xem đọng lại sau mỗi buổi họp, sau hết buổi họp nầy đến buổi họp khác trên cả ba miền đất nước, là cái vóc dáng gì của Phật Giáo Việt Nam hiện nay. Như người tạc tượng, bắt đầu bằng một khối đá sần sùi, từ từ gọt đẻo thành một hình tượng có chiều kích nghệ thuật và thông điệp văn hóa.
Chuyến đi kéo dài ba tuần, từ Bắc qua Trung rồi vào Nam, dừng chân ở 15 tỉnh thành [1] và làm việc với 26 Chùa [2]. Trong những lần tiếp xúc nầy, chúng tôi đã được dịp trao đổi với khoảng gần 300 quý Tăng Ni với giáo phẩm và chức vụ khác nhau, và hơn 60 nam nữ cư sĩ Phật tử ở lứa tuổi và góc độ nhận thức khác nhau. Chúng tôi cũng đã được hội kiến riêng tư với các bậc cao tăng như Hòa Thượng Thanh Tứ (ở Hà Nội) hay Hòa Thượng Huyền Quang (ở Nguyên Thiều), hay được lắng nghe tâm sự xót xa của các Phật tử “tóc đã muối tiêu” mà vẫn còn “hào khí 1963” ở Huế và Đà Nẵng. Nhiều khi tình cờ mà chúng tôi lại được chứng kiến những sự cố ngoài hoạch định như lễ kỷ niệm trang trọng ngày thành lập Giáo Hội PGVN tại Cung Văn Hóa ở Hà Nội, hay thấy tận mắt toàn bộ kinh Pháp Hoa khắc trên gỗ tràm có niên đại cổ nhất của Việt Nam tại chùa Phật Quang ở Bình Thuận.
Đây là một chuyến đi ấn tượng với nhiều cung bậc trầm bổng, cho tôi có dịp cảm nhận trực tiếp hàm lượng to lớn của Phật Giáo khi quấn quít hòa trộn với văn hóa dân tộc. Không còn nghi ngờ gì nữa, sau bao nhiêu vật đổi sao dời trong suốt 2000 năm lịch sử, bây giờ, Phật Giáo đã thấm vào da thịt, đã ăn vào xương tủy của dân tộc. Phật Giáo miền Bắc đang trở mình hồi sinh với bề dày lịch sử làm sức bật, Phật Giáo miền Trung thâm hậu giữ gìn giềng mối cho đạo pháp, Phật Giáo miền Nam hiện đại tràn đầy sức sống đa dạng và phong phú.
Dù ngổn ngang trăm mối tơ vò, tôi vẫn không thể không vui mừng thấy một đạo Phật đặc thù Việt Nam đang nhọc nhằn nhưng bền bỉ sống lại sau hơn ba thế kỷ cúi đầu trước những làn gió dữ từ phương Tây thổi đến. Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui đó, tôi cũng nghe, thấy, sờ mó được những đe dọa to lớn, những cạm bẫy tinh vi, những vết thương tự tạo, những cản lực trì kéo mà Phật Giáo Việt Nam đang phải đối diện và cần phải đối trị để vươn lên.
Cho nên trong mỗi buổi gặp mặt, dù chung hay riêng, sau phần thảo luận và đúc kết liên quan đến công tác từ thiện, tôi lại xin phép được đặt câu hỏi của mình. Câu hỏi lạc lõng và lạnh lùng, câu trả lời ngại ngùng lúc đầu nhưng sôi động lên theo chiều dài của buổi họp. Mang mang suốt 26 buổi họp của chuyến đi là những xúc động và kỳ vọng, là những đam mê và chán chường, là những thoáng cam chịu và nỗi âu lo. Nhưng trên hết, vẫn là những bức xúc “nát gan nát ruột” của quý Thầy Cô và Phật tử về nguy cơ tụt hậu và đe dọa suy thoái của Phật Giáo Việt Nam so với những tiến bộ vũ bảo của xã hội và thế giới dù, đàng sau cơn chuếnh choáng nghiêng ngửa đó, vẫn thấp thoáng những quyết tâm và nỗ lực để đem lại hy vọng óng ánh vào một ngày mai tươi sáng hơn cho Phật Giáo Việt Nam.
Kết thúc chuyến đi, tôi ghi nhận được 24 yếu tố “tiêu cực” có thể tổng kết lại trong năm vấn nạn lớn:
(a) Tình trạng lão hóa tư duy của một số cấp lãnh đạo trung ương và/hoặc điạ phương của Giáo hội rõ ràng làm cho một bộ phận lớn của Phật Giáo Việt Nam đang, ở nhiều nơi, trở nên còm cỏi, mất sinh khí, đứng bên lề những chuyển đổi sinh động và thành quả tích cực mà thời đại cống hiến.
(b) Sự bất lực của pháp chế và giáo quyền trước tình hình tha hóa đạo đức và giới hạnh của Tăng chúng, nhất là trong hàng ngũ Tăng Ni trẻ. Có một khoảng cách phẩm hạnh và uy quyền giữa trung ương và địa phương, giữa sư phụ và đệ tử, giữa Tăng Ni và Phật tử.
(c) Hiện tượng Tăng đoàn phân liệt và cát cứ vì nhiều loại hình mâu thuẫn và tranh chấp chồng chất lên nhau, đan bện vào nhau làm tê liệt mọi nỗ lực hòa hợp để đồng tu, mọi kết hợp để phát triển. Hầu như mỗi vùng điạ dư, thậm chí mỗi chùa, là một ốc đảo tự quản tự trị, chỉ gắn bó hàng dọc với nhau vì đạo tình cùng tông phái, hay liên kết hàng ngang với nhau vì công tác Phật sự. Ngoài tọa độ dọc-ngang đó, chùa không biết đến ai, và cũng chẳng ai biết đến chùa.
(d) Vai trò và đóng góp của Ni chúng và Cư sĩ bị khống chế, thậm chí có nhiều nơi bị thủ tiêu hoàn toàn. Một nữa lực lượng Trưởng tử Như Lai không được sử dụng đúng cách, hai trong tứ chúng khép nép trước hay xa lìa hẳn cửa chùa. Đầu óc phân biệt giới tính và tinh thần gia trưởng Tống Nho đã làm bại liệt hơn một nữa cơ thể của Phật Giáo Việt Nam.
(e) Sự bất cập trong kế sách đào tạo Tăng Ni, từ nội dung giáo trình đến triết lý đào tạo, từ ngân sách tiền bạc đến hành lang pháp lý, từ kinh sách đến giảng sư, từ cơ sở vật chất đến kiến thức ngọai điển. Chỗ cần thì không có đủ, chỗ thiếu thì bị bỏ rơi. Tăng Ni du học ngoại quốc thì không chịu về nước, Tăng Ni tốt nghiệp trong nước thì không chịu về vùng sâu vùng xa. Tăng Ni là mạng mạch của Phật Giáo, nhưng với tình trạng đào tạo Tăng Ni hiện nay, đa số những vị mà chúng tôi tiếp xúc trong chuyến đi đều chỉ biết … thở dài.
Điều ngạc nhiên là hai hiện tượng mà tôi nghĩ, trước khi đi, sẽ tác động mạnh mẽ lên phong cách và hành xử của chùa/tăng thì lại tỏ ra không có ảnh hưởng gì nhiều: Đó là quan hệ “đồng hành” khập khiễng về quản lý giữa Nhà Nước và Giáo Hội, và sự thâm nhập của Kinh Tế Thị Trường vào đời sống tu hành. Ngược lại là khác, hầu như các chùa đều ý thức được mối đe dọa và những thách thức mà một đất nước đang mở toang cửa để hội nhập, nên đều vận dụng một cách thiện xảo được mối quan hệ và sự thâm nhập nầy một cách tùy duyên khá tích cực trong các công tác Phật sự.
Tuy nhiên, song song với 5 yếu tố tác động tiêu cực vào khả năng phát triển lành mạnh và bền vững của Phật Giáo Việt Nam, vẫn có những hiện tượng mà tôi được lắng nghe và tận mắt nhìn thấy để có thể cô đọng lại thành ba yếu tố tích cực lớn:
(a) Thứ nhất là một niềm tin vững chắc gần như huyền hoặc vào nội lực và tiền đồ của Phật Giáo Việt Nam của hầu hết quí Tăng Ni và cư sĩ mà chúng tôi tiếp xúc. Niềm tin không thể giải thích và không cần luận bàn đó vừa đặt cơ sở trên vận động Thành-Trụ-Hoại-Diệt tự nhiên, vừa có tính quy luật rằng cái Thiện sẽ thắng cái Ác, cái dở sẽ thành cái hay rất có hậu của triết lý sống của dân tộc. Đó là một niềm tin “tôn giáo” sôi nổi nhưng vẫn đậm đà, bất khả tư nghì mà lại có tính logic. Tin để mà tu và hành, và tu và hành nhờ vào tin.
(b) Thứ nhì là một ý thức có cả chiều sâu lẫn chiều rộng của đa số mọi người về cuộc khủng hoảng mà Phật Giáo Việt Nam đang kinh qua. Ý thức đó được đúc kết từ cuộc sống đời thường ở cả hai bên trong và ngoài cửa chùa, qua thao tác tư duy với hàng nghìn thông tin xôn xao, và qua cả chứng nghiệm rốt ráo của bản thân, nên cô đọng lại và hừng hực cháy như than hồng trên bếp lửa. Điều đáng nói là từ ý thức chập chùng đa chiều và đa dạng về cuộc khủng hoảng đó, ào ạt nổi lên những bức xúc và ước mơ về một cuộc thay da đổi thịt toàn diện và triệt để của Phật Giáo Việt Nam. Chỉ cần một mệnh lệnh. Vì lòng người đã chín mùi, gió lớn đã nổi lên, thì thuyền sẽ ra khơi thôi.
(c) Và thứ ba là độc lập với những tín hiệu khích lệ về một sự chuyển đổi não trạng còn dè dặt của giới lãnh đạo chính trị tại Việt Nam về bản chất và giá trị của Phật Giáo trong bước đồng hành với dân tộc, từ gần 5 năm nay, xuất hiện một số, không nhiều, những Thầy, Cô và Cư sĩ tuổi trung niên, có hành trang Phật học và thế học vững vàng, có tầm nhìn chiến lược viễn kiến và bản lãnh hành động cấp tiến, nhưng lại không kết tụ được thành một hợp lực duy nhất. Những vị nầy thì năng động, hiệu quả, và cô đơn hoàn thành các công tác Phật sự trong chuyên ngành của mình, trong lãnh vực của mình mà thôi. Hầu như không có một tiếng nói có trọng lượng trong sinh mệnh của Phật Giáo Việt Nam. Trong chuyến đi vừa qua, tôi đã chủ quan nhận diện ra được ít nhất là 5 vị như thế mà tôi thật sự thán phục và kỳ vọng. Tôi lạc quan nghĩ rằng Phật Giáo Việt Nam hiện nay đã có, và chỉ cần có, một khối 200 vị như vậy cho khắp cả nước thì cũng đã chuyển được … “thế cờ”. Chỉ với hai điều kiện gian truân: Họ là một khối keo sơn, và thời đại dám trao cho họ một cơ hội để hoàn thành tâm nguyện phục vụ Dân Tộc và Đạo Pháp của mình.
Ít nhất là đối với tôi, chuyến đi thăm chùa xuyên Việt vừa rồi đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc. Tin tưởng thì nhiều mà âu lo cũng lắm. Dù chuyến du khảo tuyệt đối không phải là một nghiên cứu xã hội học nghiêm túc để rút ra được những kết luận khả tín và khả dụng, nhưng bức tranh về hiện trạng Phật Giáo Việt Nam cũng đã rõ ra thêm. Và xác định một quy luật của văn hóa Việt Nam: Mái chùa che chở hồn Dân tộc, Giềng mối muôn đời của Tổ tông.
Trí Tánh
(“Như Thị Ngã Văn”)
[1] Sóc Sơn, Tp Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Huế, Tp Đà Nẳng, Quy Nhơn, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết, TPHCM, Bến Tre, Mỹ Tho, và Vĩnh Long.
[2] Học viện Sóc Sơn, Quán Sứ, Pháp Vân, Phúc Chính, Thanh Hòa, Tâm Đức, Đông Hà, Châu Quang, Từ Đàm, Tường Vân, Pháp Lâm, Thanh Hà, Hải Hội, Bà Đa, Thiên Đức, Nguyên Thiều, Hải Ấn, Tỉnh hội Phan Thiết, Phật Quang, Giác Ngộ, Thiền viện Quảng Đức, Vạn Phước, Từ Tân, Tỉnh hội Bến Tre, Vĩnh Tràng, và Sơn Thắng.⧫


Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.