Chiếc Giỏ/ Herbert J. Mangham

Đọc 10 phút

Nghe AI đọc (QuillBot)

Truyện HERBERT J. MANGHAM
(Do Phúc Quỳnh tuyển dịch từ truyện ngắn ‘The Basket’ đăng năm 1923)

Ban đầu bà Buhler nói với ông ấy rằng nhà không còn phòng cho thuê, nhưng khi ông bắt đầu rời đi, bà nghĩ tới căn phòng nhỏ dưới hầm mà bà có thể cho ông ta thuê và có thêm chút tiền.

Ông quay lại khi nghe bà gọi.

“Tôi còn một phòng có thể cho ông thuê,” bà nói, “nhưng phòng rất nhỏ và nằm trong tầng  hầm. Tôi sẽ có giá đặc biệt cho ông, nếu ông chịu đi xuống dưới hầm và xem thử ông có muốn nó không.”

Phòng này rất khó cho thuê. Bà thường ngại cho khách xem phòng đó, vì họ dễ cảm thấy bị chạm tự ái nếu bà nói trước rằng họ sẽ hài lòng với sự khiêm tốn của phòng. Khách có thể nghĩ rằng họ bị bà xem thường, cho là họ nghèo, có ít tiền nên mới thuê phòng này. Trong trường hợp có người sẵn sàng thuê phòng nhỏ dưới hầm, thì bà lại lo lắng người ấy thuộc thành phần bất hảo, làm mất uy tín cho toàn ngôi nhà chung cư mà hầu hết người thuê thuộc thành phần đáng kính trọng. Khi biết ra người ở trọ là nhân vật bất lương, thì bà khó mà đuổi họ đi một cách êm thắm. Thế nên trong thời gian khá lâu, bà chấp nhận không có thêm lợi tức mà phòng dưới hầm có thể mang đến.

“Tiền thuê bao nhiêu?” người đàn ông hỏi.

“Bảy đồng một tháng.”

“Bà cho tôi xem.”

Bà Buhler kêu chồng đến ngồi ở quày tiếp khách, trong khi bà cầm chùm chìa khóa và dẫn khách đến phía sau của ngôi nhà để xuống hầm. Phòng hẹp, có một cửa sổ duy nhất hơi thấp một chút so với mặt sân sau rất nhỏ; sân trống trải, được che kín bằng hàng rào đóng bằng ván.

Kê sát cửa sổ là một chiếc tủ làm bằng gỗ sồi, cũ kỹ, lung lay, bên cạnh là một chiếc bàn vuông nhỏ bên trên đặt một chiếc bình và một chậu rửa mặt. Một chiếc giường bằng sắt cho một người được kê sát bức tường đối diện, chỉ chừa đủ chỗ cho một chiếc ghế và một lối đi hẹp từ cửa phòng đến cửa sổ. Một tấm rèm treo ở một góc và vài cái móc trên tường được dùng thay thế cho tủ quần áo.

“Ông có thể dùng phòng vệ sinh ở tầng số một,” bà Buhler nói. “Phòng không có máy sưởi, nhưng nếu ông muốn, tôi sẽ cho ông dùng một lò sưởi dầu. Tiền dầu không là bao nhiêu. Vả lại, thời tiết ở San Francisco rất ít khi lạnh, chỉ khi nào sương mù từ ngoài vịnh tràn vào đây thì phòng có thể lạnh hơn một tí.”

“Tôi sẽ thuê phòng này.”

Người đàn ông lôi từ trong túi quần ra một cọc tiền giấy, đếm đủ bảy đồng đưa cho bà chủ nhà.

“Chắc ông từ Miền Đông tới,” bà Buhler vừa cười vừa nói khi thấy những tờ tiền giấy.

“Đúng vậy.”

Bà Buhler nhìn mái tóc màu lợt, đôi mắt nhợt nhạt và bộ ria mép cũng nhợt nhạt của ông khách. Bà nghĩ không cần ông cung cấp tên và địa chỉ của một số người quen mà bà có thể liên lạc để biết lý lịch của ông. Ông ta dường như không có khả năng để làm chuyện bất lương, có vẻ là một con ngựa già từng làm việc ở sở cứu hỏa, nay gặm cỏ và nhớ về một quá khứ huy hoàng.

Ông nói tên ông là Dave Scannon.

Và đó là tất cả chi tiết cá nhân mà ông tình nguyện cung cấp cho bất cứ ai sống trong ngôi nhà có nhiều phòng cho thuê này khi họ hỏi chuyện ông.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau thì ông dọn vào nhà. Ông ráp một tủ nhỏ có các ngăn kéo, khiêng một chiếc va-li lớn và trút hết những thứ trong va-li vào các ngăn kéo. Đồ đạc của ông chỉ có vậy.

Những người sống cùng nhà hầu như không biết người khác trọ mới. Ông thường đi thẳng qua hành lang nhỏ mà không nhìn ai, không bao giờ dừng lại ngoại trừ để trả tiền thuê phòng. Mỗi tháng ông trả tiền thuê phòng đúng ngày mùng năm.

Ông không để lại chìa khóa ở quày tiếp khách mỗi khi rời nhà, như thông lệ đối với những người trọ trong nhà; ông mang chìa khóa trong túi. Bà quản gia không bao giờ đến dọn phòng của ông. Theo yêu cầu của ông, bà quản gia cho ông một cây chổi, và mỗi Chủ Nhật thì bà treo ở ổ khóa ngoài cửa phòng của ông khăn lau mặt và khăn tắm, một tấm vải trải giường và một áo gối sạch. Khi trở lại, bà thấy một chồng khăn đã dùng, vải dơ được chất ngay ngắn bên cạnh cửa.

Bị thôi thúc bởi sự tò mò, bà Buhler từng một lần dùng chìa khóa của chủ nhà để vào xem phòng của ông. Phòng ngăn nắp, sạch sẽ, quá sạch, không có tới một sợi tóc trên sàn nhà. Một chiếc lược, một lược bàn chải để trên tủ đứng, một chồng báo nhật trình, đó là những bằng chứng duy nhất cho thấy phòng có người ở. Lò sưởi dầu mà bà cung cấp cho ông nằm đóng bụi trong góc phòng: nó chưa bao giờ được sử dụng. Bà bưng lò sưởi dầu ra ngoài: lò sưởi này cần thiết cho bà cụ sống trong phòng ở hướng bắc của ngôi nhà; bà cụ này lúc nào cũng than phiền cảm thấy lạnh trong người, cho dù giữa trưa, trong khi toàn thể cư dân trong ngôi nhà trọ đều thấy chưa đến độ lạnh phải có sưởi.

Một buổi trưa kia, bà cụ đã ngồi trong phòng khách khi ông đi làm về.

Bà cụ hỏi bà chủ, “Ông đó là người thuê phòng dưới hầm phải không?”

Bà cụ nhìn theo cho đến khi ông biến mất ở cuối hành lang.

Bà cụ nói, “Hình như tôi có thấy ông này ở đâu rồi. Nghĩ hoài chưa ra. À, nhớ ra rồi, có lẽ ông là người khuân vác, giúp việc ở  cái tiệm bánh lớn cuối đường Market Street dưới phố.”

Bà Buhler nói với bà cụ, “Tôi không thật sự biết ông ấy làm việc ở đâu. Nhiều lần tôi có nghĩ đến việc hỏi chuyện ông ta, nhưng ông này ít nói quá, rất khó gợi chuyện với ông.”

Ông thuê phòng dưới hầm được bốn tháng thì có lá thư đầu tiên gởi cho ông. Những dòng chữ bên ngoài cho thấy thư này là thư quảng cáo thuốc trị dị ứng phấn hoa.

Vì ông không có thói quen để lại chìa khóa ở quày tiếp khách, nên lá thư quảng cáo đã nằm trong hộp thư của ông ba ngày. Cuối cùng ông chủ nhà Buhler phải trao thư đó cho ông, khi ông đi ngang quày tiếp khách để về phòng.

Ông ở trọ đã dừng lại để đọc những dòng chữ viết bên ngoài phong bì.

Ông Buhler gạ chuyện, “Chẳng thấy ông có thư bao giờ. Ông có gia đình gì không?”

“Không.”

“Quê ông ở đâu?

“Catawissa, Pennsylvania.”

“Tên lạ quá. Ông đánh vần tôi nghe thử.”

Ông Scannon đánh vần Catawissa thật nhanh, rồi đi tới cuối hành lang.

Ông Buhler đánh vần lại cho vợ nghe, “C-a-t-a-w-i-hai chữ s rồi chữ a. Tên gì nghe lạ quá!”

Về đến phòng, ông Scannon lấy quảng cáo ra ngoài phong bì và chăm chú đọc từ đầu đến cuối.

Đọc xong, ông xếp quảng cáo lại, đặt nó bên trên chồng báo nhật trình. Sau đó ông chải tóc bằng lược bàn chải và rời phòng để ra ngoài một lần nữa.

Ông ăn tối tại bàn dành cho người ăn trưa ở Trung Tâm Tòa Thị Chánh. Giờ còn lại trong buổi chiều, ông vào thư viện công cộng và dành hết thời gian trong phòng báo chí. Ông không chọn lựa báo xuất bản ở miền đông hay miền tây nước Mỹ, trang báo nào cũng được ông đọc hết từ trên xuống dưới, ông đọc say sưa mà không biểu lộ cảm xúc, cho đến khi thư viện rung chuông báo giờ đóng cửa.

Ngoài phòng nhật báo, ông không bao giờ lai vãng vào phòng sách tiểu thuyết, sách tham khảo, hay phòng tạp chí, ông chỉ đọc báo ngày mà thôi. Thỉnh thoảng ông lấy một nhật báo địa phương mang về phòng, trải báo trên giường và đọc các bản tin, không mấy chú ý đến hai bàn tay đã đổi sang màu tái tím vì khí lạnh thấu da từ ngoài biển luồn vào phòng hàng đêm.

Vào Chủ Nhật, ông diện một chiếc áo lụa sọc đỏ mặc trong bộ đồ vét vải xéc màu xanh da trời, đón xe xuống Công Viên Golden Gate. Ở đó, ông ngồi hàng giờ dưới ánh nắng, bình thản quan sát hàng trăm người vui chơi picnic trong công viên, xem mấy con sóc, hay chú ý một trang báo bay theo gió. Cũng có lúc ông đi bộ về hướng tây đến bãi biển, dừng lại vài phút để xem mấy con thú nuôi trong chuồng, xong đón xe ở Cliff House để về nhà.

Trong hai năm, ngày đến ngày đi theo trình tự lặp lại đơn điệu, thỉnh thoảng được dấy lên một chút với những lá thư quảng cáo thuốc trị dị ứng phấn hoa.

Thế rồi một buổi chiều, khi chải tóc bằng chiếc lược bàn chải, ông thấy khó thở, đưa tay lên ôm lấy cổ họng. Một cơn buồn nôn dữ dội vật ông té xuống sàn nhà.

Ông lết chậm chạp đến chiếc bàn nhỏ, quơ tay khiến cho bàn bị lật đổ, chậu rửa mặt và bình đựng nước rớt xuống sàn, bể tan thành chục mảnh.

Ông đã dùng hết năng lực trong lúc lết tới bàn, và rồi ông nằm bất động.

Sương mù ở San Francisco (Photo: Lygia Muller/ Pixabay)

Sau nhiều lần nghe bạn nài nỉ, cuối cùng bà Buhler mới đồng ý đi coi bói với người bạn. Vừa đến nơi thì bà ân hận về quyết định chiều lòng bạn.

Phòng khách ẩm mốc nằm phía bắc của ngôi nhà, nơi mà mặt trời không bao giờ lọt vào được, do đó phòng lạnh và ẩm thấp. Bà đồng cốt là một phụ nữ mập mạp, nhếch nhác, nói lẩm bẩm với tiếng lụa loạc xoạc và tiếng leng keng của đồ trang sức lòe loẹt. Bà đồng cốt ngồi đối diện bà Buhler, một tay ấn lên trán và rồi nói ra những điều không biết xuất phát từ nguồn bí ẩn nào, về người thân và bạn bè của bà Buhler.

Cuối cùng bà bói hỏi, “Dave là ai vậy?”

Bà Buhler nghĩ đến tất cả các thân nhân của bà cũng như của bên chồng.

“Tôi không biết ai tên Dave,” bà nói.

“Có, có chứ, bà có biết một người tên Dave,” bà bói khẳng định. “Ông ấy đang ở cõi âm. Có người chết ngay ở cửa nhà của bà!”

Bà đồng cốt còn làm thêm một động tác, đưa một bàn tay lên ôm cổ họng, ho khọt khẹt như đang bị bóp cổ.

Bà Buhler cũng lặp lại một cách quyết liệt, “Tôi không biết ai tên Dave.”

Đến khi bước ra ngoài đường, bà Buhler mới cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái trở lại.

“Tôi sẽ không bao giờ đi vào những nơi như vậy nữa đâu nhé!” bà nói với người bạn khi họ chia tay. “Chỗ đó yêu quái quá!”

Một khối sương mù hùng vĩ đang di chuyển từ hướng tây vào thành phố, che lấp mặt trời và tạo mưa lún phún rơi trên mặt vỉa hè. Bà Buhler khép áo lạnh sát hơn vào cổ, rảo bước lao vào khối ẩm ướt đang bao trùm khu phố, hướng lên đồi về ngôi nhà có những phòng cho thuê của bà.

Vừa bước vào nhà, bà thấy đôi mắt mở to và mặt nhợt nhạt của ông chồng, báo trước một hung tin.

“Dave Scannon đã chết!” ông nói nhỏ với vợ, giọng khàn khàn.

Ô! Thì ra là Dave Scannon! Người mang tên “Dave!”

Ông Buhler nói tiếp với vợ, “Ông ấy chết đã hai hoặc ba ngày rồi. Anh đang đập bụi tấm thảm ở sân sau thì thấy một đám ruồi to bu quanh cửa sổ của ông. Anh chợt nhớ ra là mình đã không thấy ông ấy suốt mấy ngày nay. Anh không thể mở cửa phòng vì chìa khóa của ông nằm ở bên trong, thành ra anh gọi cảnh sát và cơ quan điều tra. Họ đến phá tung cánh cửa. Ông ta đã nằm ở khoảng giữa chiếc giường và tủ có ngăn kéo, chậu rửa mặt và bình nước đã bể trên sàn nhà, có lẽ ông làm đổ khi bị té. Hiện giờ họ đang khiêng ông đi.”

Bà Buhler vội vàng đi xuống cầu thang và vào hành lang bên dưới. Hai người đàn ông đang khiêng một chiếc giỏ đan lát, dài bằng một cái hòm, bước lên cầu thang của cửa sau và sân sau. Bà dựa vào lan-can, đứng nhìn cho đến khi chiếc giỏ biến mất.

Viên chức điều tra tìm thấy trong phòng của ông không có gì ngoài mấy bộ quần áo, năm đồng tiền giấy, một khung hình bằng bạc đã cũ với tấm hình phai màu, hình của một phụ nữ xanh xao có lẽ là mẹ, vợ hay chị hoặc em gái.

Bà Buhler hồi hộp khi trả lời các câu hỏi của điều tra viên. Đúng, người đàn ông đã ở nhà của họ khoảng hai năm. Họ biết rất ít về ông ta, vì ông là người dị thường, khép kín, rất ít nói, không muốn tiếp xúc với ai, ngay cả bà quản gia cũng không được ông cho phép vào trong phòng để dọn dẹp. Ông ấy có nói là ông không có gia đình và quê nhà của ông ở thị xã Catawissa, Pennsylvania. Bà nhớ tên thị xã vì tên này khác thường.

Điều tra viên đã gởi thư đến thị xã Catawissa, nơi mà nhà chức trách đã hồi âm rằng họ không tìm ra ai tên Scannon. Không có thêm thư nào khác được gởi cho người đàn ông đã qua đời, ngoại trừ thỉnh thoảng có thư quảng cáo thuốc trị dị ứng phấn hoa.

Người quản lý tiệm bánh có gọi điện thoại hỏi có phải tên Dave Scannon đăng trong thông báo khai tử trên nhật trình cũng chính là ông Dave Scannon đã làm việc cho tiệm. Người quản lý nói với điều tra viên rằng ông không biết nhiều về người đàn ông, ngoài sự việc ông ấy đến đúng giờ, thực hiện nhiệm vụ đúng quy trình cho đến ngày ông không xuất hiện.

Nhiều tuần sau, bà Varnes nhỏ bé, người thuê phòng ở cuối hành lang trên tầng hai, có ghé quày tiếp khách để trao chìa khóa. Bà đứng quanh quẩn thêm chốc lát như có điều gì đó muốn nói nhưng chưa quyết định. Cuối cùng bà cũng đưa đầu tới trước thật gần bà Buhler.

Bà Varnes hạ giọng nói, “Bà cho tôi hỏi cái này được không? Một buổi chiều mấy tuần trước đây, tôi có thấy mấy người đàn ông khiêng một cái giỏ dài dài đi ra cửa sau. Tôi đã thắc mắc họ khiêng cái gì vậy.”

“Chắc là quần áo bẩn,” bà Buhler nói đại.

“Không phải đâu, cái giỏ đó là giỏ dài, loại mà mấy người làm đám ma dùng để khiêng tử thi. Tôi đã nghĩ đến chuyện đó nhiều lần, nhưng tôi không thể đoán người nào đã chết trong ngôi nhà này, thế nên tôi quyết định hỏi bà. Tôi có kể cho chồng tôi biết, và ông nói là tôi đã ngủ mơ.”

“Chắc bà đã ngủ mơ như vậy,” bà Buhler trả lời.

HẾT

Một kiếp nhân sinh
Đến, đi gió thoảng
Chiều, tối, sớm, mai
Muôn giấc mộng dài.⧫

Trích từ tuyển tập Siêu Nhiên Dị Truyện


Discover more from Tinh Tấn Magazine

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *