Học Được Gì Từ Thầy Nhất Hạnh?/ Tiểu Huyền

Nghe AI đọc bài

Bài TIỂU HUYỀN

Đây là một chủ đề lớn hơn tất cả sự hiểu biết và kinh nghiệm của một người học trò cư sĩ, dù người đó có duyên lành đã được gần cận và học hỏi trực tiếp với Thầy nhiều lần, trong khoảng bốn thập niên! Mỗi người đều có những hiểu biết và quan niệm riêng, kinh nghiệm và tri giác của một cá nhân chỉ là một mảng nhỏ trong bức tranh lớn về một vị thầy “vĩ đại” của thế giới, với các sinh hoạt phong phú suốt 80 năm, từ lúc bước chân vào Chùa Từ Hiếu năm 16 tuổi (1942) cho tới khi thị tịch (2022).

Mùa thu năm nay, tháng 10/2026, rất nhiều môn sinh của Thầy tụ họp về các trung tâm Làng Mai khắp Âu Á, đã tổ chức triển lãm và họp mặt, chia sẻ với nhau những kỷ niệm tu học, nhân kỷ niệm 100 năm tuổi của Thầy. Vậy nên người viết bài này, cũng muốn đóng góp một phần rất nhỏ trong bức họa về những sinh hoạt và ảnh hưởng của “Thầy tôi”.

Từ năm 1982 biên thư xin được học Thiền với Thầy khi tâm bất an, đau khổ vì có người bạn thân tự tử, cho tới tháng 10 năm 2018 được gặp mặt, biếu lại Thầy cuốn sách Nẻo Về Của Ý đã giữ từ 50 năm trước, trò này thật sự đã học được cách sống đơn giản và có ý nghĩa từ Thầy. Một tuần trước khi Thầy về Việt Nam an dưỡng rồi thị tịch, trò rất may mắn đã được nói với Thầy lời tri ân thành kính sâu xa của mình và gia đình trong lần gặp cuối cùng đó.

Từ năm 1968, khi mua và đọc cuốn sách Nẻo Về Của Ý, tâm thức trò đã được gieo các hạt giống sống thiện, sống thảnh thơi, như Thầy mô tả về các sinh hoạt tại Phương Bối. Sau khi được gặp thầy tại thiền viện Mt Tremper (tiểu bang Nữu Ước, Mỹ) mùa xuân năm 1983, và đưa gia đình về Làng Hồng mùa hè 1984, cuộc đời của gia đình chúng tôi đã đổi khác. Năm 1985 Thầy qua Canada hướng dẫn khóa tu thiền đầu tiên cho khoảng 90 người Việt vùng Montreal, Quebec, Washington DC, Boston, v.v. và các tiểu bang lân cận, chúng tôi và ban tổ chức khóa tu (toàn là cư sĩ) sau đó thành lập trung tâm tu học Làng Cây Phong, tồn tại cho tới ngày nay (2026).

Ảnh hưởng của lời văn và ý tưởng thanh thoát trong Nẻo Về Của Ý, cũng như của các tác phẩm Thầy trước tác sau này, không phải chỉ có chúng tôi được hưởng, mà cả triệu độc giả khắp thế giới cũng đã có cảm hứng tốt đẹp. Từ năm 1985, khi nhà xuất bản Lá Bối và Parallax ấn hành sách của Thầy, thế giới được biết tới Thiền Sư ngày càng đông đảo. Văn tài của Thầy, trong các sáng tác, giảng giải kinh điển hoặc trong thi ca, đối với nhiều nhà phê bình văn học Việt Nam (trong có đạo hữu Phan Tấn Hải), là một điểm đặc sắc giúp thầy hoằng hóa Phật giáo rộng rãi khắp năm châu. Đa số các thiền sinh tìm tới Làng Mai tu tập, đều vì đã được đọc một hay vài cuốn sách của Thầy, nhất là cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức, và sau này cuốn Living Buddha, Living Christ. Phần lớn các cuốn sách của Thầy đều được dịch ra nhiều ngôn ngữ.

Riêng cuốn Đường Xưa Mây Trắng chuyển ngữ ra tiếng Hindi (Ấn Độ) đã đưa Thầy và tăng đoàn tới đại hội điện ảnh Cannes, khi ông tỷ phú Modi muốn giới thiệu cuốn phim vĩ đại làm theo sách này. Ông được đọc sách và có cảm hứng rất lớn, qua tận Làng Mai xin phép tác giả để làm phim, nhưng nhân duyên không đủ nên sau ông chỉ làm được 50 tập phim Buddha cho Ti-vi mà thôi. Giáo sư khoa học Trần Chung Ngọc cũng đã hết lời tán thán văn phong và cấu trúc hấp dẫn, cách diễn tả kinh điển thật dễ hiểu của cuốn Đường Xưa Mây Trắng.

Điểm đặc biệt thứ hai trong cuộc đời Thầy là sự dấn thân vào việc kiến tạo hòa bình. Từ hòa bình tự tâm tới hòa bình thế giới. Con đường rất ít người đi đó, là cuộc hành trình Thầy đã dấn bước không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. Ngay từ khi còn là chú tiểu, thầy đã tình cờ kết bạn với một anh lính Pháp, nhìn anh ta với sự bình đẳng, không chút kỳ thị. Khi nội chiến Nam Bắc nước Việt xảy ra ngày càng khốc liệt, năm 1966 Thầy qua Mỹ vận động chấm dứt chiến tranh, nói lên tiếng nói của người dân vô tội. Đứng giữa hai lằn đạn của phe Quốc Gia và phe Cộng Sản, Thầy bị cả hai phía coi như thù địch, nên không thể trở về nước và phải sống lưu vong bốn thập niên!

Thầy về Việt Nam lần thứ hai, năm 2007 để lập ra Trai Đàn Giải Oan cho những sinh linh đã chết, và cho cả người còn sống khắp ba miền. Nghiệp chung của dân tộc còn nặng nề, nên ý tưởng giải hòa của Thầy chưa được chính quyền thực hiện, nhưng nó cũng đã có ảnh hưởng khá mạnh vào những người dân có lòng nhân nghĩa khắp nước ta.

Giới trẻ trong nước Việt bắt đầu được học hỏi và hành trì pháp môn Chánh Niệm để có thể biết nhìn nhận và tu tập nếp sống hiểu biết, thương yêu nhiều hơn từ sau khi Thầy lập tu viện Bát Nhã (Lâm Đồng) năm 2005, trong chuyến hồi hương lần đầu. Ảnh hưởng trong giới trẻ ngày càng sâu rộng, và đó là điều Thầy đang góp phần vào việc cải tiến nếp sống cho người Việt “có văn hóa” hơn thay vì chỉ hài lòng với các tiến bộ vật chất!

Đàn tràng giải oan tại chùa Vĩnh Nghiêm, Saigon năm 2007 (Giác Ngộ Online)

Đạo Bụt cải tiến và đạo Bụt dấn thân do Thầy khởi xướng từ thập niên 1950, đã tạo ra cách sống đạo mới cho người Việt trong và ngoài nước, với những kinh bản dễ hiểu, thuần dùng tiếng Việt (xưa rày các chùa chiền dùng nhiều kinh sách tiếng Hán Việt), với các cách tu tập hàng ngày thực tế… Thầy đã và vẫn đang chinh phục các công dân thế giới, không phân biệt tôn giáo, giòng giống. Thuở còn sinh thời, các buổi giảng pháp đông hàng năm mười ngàn thính chúng xảy ra hàng năm tại Pháp, Anh, Ý, Đức hay Hồng Kông, Indonesia, Thái Lan, Đại Hàn, v.v.. Ngân Hàng Thế Giới, Đại Học Harvard, Công Ty Google, v.v. đều đón Thầy và tăng đoàn tới hướng dẫn phương pháp thiền Chánh Niệm.

Chánh Niệm ngày nay được cả thế giới dùng trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách hành xử có hiểu và thương. Có thể nói đạo Bụt mới do Thầy chỉ dạy và hành trì, nay đang lan tỏa ngày càng sâu rộng. Nhiều tù nhân người Âu Mỹ hay người Việt đã có duyên may nhận được sách của Thầy, thực tập, chuyển hóa và viết nhiều thư báo cáo, cảm tạ thiền sư.

Thầy giảng dạy bằng cuộc đời mình

Bản thân Thầy đã sống với lý tưởng đạo Bụt dấn thân, trước khi được giáo hội Phật Giáo giao trọng trách cải tiến chương trình giảng dạy cho tăng ni tại Trung Tâm Phật Giáo Ấn Quang (Saigon, 1956 và sau đó), Thầy viết các sách Đạo Phật Trong Đời Sống Hàng Ngày, Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Phật Giáo và Hướng Đi Nhân Bản, Vấn Đề Nhận Thức Trong Duy Thức Học, v.v. khi còn rất trẻ (trên dưới ba mươi tuổi).

Thầy đã thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, viết báo phổ biến các phép học và hành trì đạo Phật canh tân, sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh (1964), và lập ra dòng tu Tiếp Hiện cho cư sĩ tại gia (1966). Trong thời gian phải sống lưu vong tại Pháp, năm 1982 Thầy đã thành lập đạo tràng Làng Hồng tại vùng quê tỉnh Bordeaux. Làng Hồng nay có tên là Làng Mai vì Thầy cho trồng rất nhiều cây mận (tiếng cổ là mai) để nuôi trẻ em đói bên Việt Nam. Thầy dạy Thiền Chánh Niệm, dùng các kinh điển căn bản của Phật Giáo Nam Tông như Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Tứ Niệm Xứ. Trong các khóa giảng tại Làng Mai, Thầy có thể nói tiếng Việt, Anh hay Pháp, các học trò Thầy phiên dịch ra sáu, bảy ngôn ngữ khác nhau (Ý, Hòa Lan, Đức, Tây Ban Nha, Trung Hoa, hay Nhật, Đại Hàn, tùy thính chúng có mặt).

Ngày nay Làng Mai với mười trung tâm lớn tại Pháp, Đức, Bắc Mỹ, Úc, và Hồng Kông, trở thành nơi đã có hàng triệu người tới tu học. Tuy cổ động sự đổi mới, nhưng Thầy vẫn luôn tôn trọng các truyền thống đẹp đẽ của dòng Thiền Liễu Quán. Và trẻ em Việt từ khắp nơi về Làng Mai tu học được thấm nhuần những nét văn hóa đẹp đẽ của Việt Nam trước chiến tranh 1945-1975. Người nào tới Làng Mai cũng được học về liên hệ tương tức với cha mẹ, tổ tiên, cây cỏ. Họ được thực tập chánh niệm: dừng mọi sinh hoạt khi nghe tiếng chuông, tập đi đứng có ý thức, biết thở khi uống trà từng ngụm, ăn cơm từng miếng, giữ tâm bình an và tỉnh thức khi ôm người thân, hay ngắm nhìn trời xanh mây trắng, v.v..

Ngũ giới của Phật giáo cũng như 14 Giới Tiếp Hiện được Thầy làm mới, mỗi giới đều bắt đầu bằng ba chữ “Ý Thức rằng…” Năm 2000 bắt đầu thiên kỷ mới, tổ chức văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO đã mời Thầy giúp để viết ra Tuyên Cáo năm 2000 (Manifesto 2000) cho thế giới, có sáu điều sống đạo đức, dựa vào năm giới của Phật giáo. Sau đây là nguyên văn bản Manifesto 2000 của Unesco:

➛ Respect the life and dignity of each human being without discrimination or prejudice
➛ Practise active nonviolence, rejecting violence in all its forms: physical, sexual, psychological, economic, and social, in particular towards the most deprived and vulnerable, such as children and adolescents
➛ Share my time and material resources in a spirit of generosity, to put an end to exclusion, injustice, and political and economic oppression
➛ Defend freedom of expression and cultural diversity, always giving preference to dialogue and listening without engaging in fanaticism, defamation, and the rejection of others
➛ Promote consumer behavior that is responsible and development practices that respect all forms of life and preserve the balance of nature on the planet
➛ Contribute to the development of my community, with the full participation of women and respect for democratic principles, in order to create together new forms of solidarity.

Sống hạnh nghèo nàn là đặc điểm thứ tư của Thầy. Tuy là một thiền sư có nhiều sách ấn hành bằng nhiều ngôn ngữ nhất, tiền bản quyền rất nhiều, thầy vẫn giữ nếp sống “bần tăng”, không chỉ cho mình mà các môn sinh cũng hành đạo sống nghèo như vậy. Trong các trung tâm Làng Mai, Thầy luôn sống trong các ngôi nhà nhỏ (gọi là thất hay cốc) chỉ có một nơi tiếp khách (bàn thấp và tọa cụ), một cái giường sát mặt đất, tủ sách, bàn viết và một cái võng hay ghế để nghỉ ngơi.

Thất Ngồi Yên tại xóm thượng, Làng Mai Pháp (Plum Village)

 Các tăng ni Làng Mai chinh phục bao người có duyên gặp mặt hay tới Làng tu học, bằng chính uy nghi và đạo hạnh của họ, trong các sinh hoạt ngày thường. Bạn về một trung tâm tu học, cúng dường cho một vị tăng hay ni mình yêu kính, thì số tịnh tài đó luôn luôn được gom vào quỹ chung, không ai giữ riêng cho mình đồng nào! Quy luật này khiến tăng đoàn Làng Mai giữ gìn được phạm hạnh và không ai thấy họ phân biệt đối xử với các Phật tử cúng dường ít hay nhiều! Đây là điểm khác biệt rất lớn giữa các tu viện Làng Mai và các tu sĩ trong chùa khác.

Ngoài hạnh sống như bần tăng, với lòng từ bi, suốt cuộc đời tu, Thầy đã luôn dấn thân cứu khổ, dù gặp rất nhiều nghịch cảnh, khó khăn. Trò này chưa bao giờ nghe thầy trách cứ một người nào – dù đó là người đã đặt chuyện nói xấu, vu cáo cho Thầy trong nhiều năm. Lòng từ vô lượng này của Thầy là sự biểu hiện của tâm Bồ Đề kiên cố và dũng mãnh, như tâm của Bồ Tát trong đời thường.

– Từ các năm đầu thập niên 1960, Thầy cùng các nhóm sinh viên Phật tử cùng đi về miền xa xôi giúp dân nghèo khi bị lũ lụt, thiên tai
– Thầy và ban giám đốc trường Thanh Niên Phụng sự xã hội (1965-1975), đã đưa các học viên được huấn luyện về thôn làng giúp dân cải tiến đời sống kinh tế, y tế, giáo dục và cộng đồng.
– Tái lập thôn xóm cho các nạn nhân chiến tranh, có khi phải giúp dân dựng lại nhà tới lần thứ năm mới thành công. Mỗi lần xây dựng xong ít lâu, bom đạn lại tiêu hủy (thời gian cuối thập niên 1960).
– Thầy đã giương thuyền ra biển Thái Bình Dương vớt những người Việt Nam vượt biển tìm đất sống trong các năm 1976- 1977
– Sau năm 1975, Thầy tiếp tục không ngừng nghỉ, giúp cô nhi, trẻ em đói, người nghèo khó và và giúp cả các gia đình học trò, văn nghệ sĩ bị tù trong trại cải tạo.

Trong rất nhiều thành tựu của cuộc đời 95 năm, điều cụ thể nhất có lẽ là việc Thầy đã được vinh danh trong Tượng Đài Những Người Bảo Vệ Nhân Loại (Champions of Humanity Monument) tại trung tâm thành phố Oakland, California vào năm 2011.

Thầy đã được dựng tượng đứng chung với các danh nhân quốc tế như Tổng Thống Nelson Mandela (Nam Phi), Mẹ Teresa, Thánh Mahatma Gandhi (Ấn Độ), Thủ Tướng Winston Churchill (Anh), Tổng Thống Abraham Lincoln, Franklin D. Roosevelt (Mỹ), Mục Sư Martin Luther King Jr. (Mỹ), v.v.. Quốc tế ghi nhận Thầy là người chuyên tâm về vấn đề hòa giải, hòa bình và đóng góp tích cực vào việc thay đổi xã hội bằng các phương cách bất bạo động.

Champions of Humanity Monument tại Oakland, 2011 (Visit Oakland)

Chúng ta cũng đã biết, trước khi viên tịch, Thầy đã dặn dò “đừng xây tháp cho Thầy” và đám tang của Thầy là một tuần lễ tu học đặc biệt thanh tịnh cho tất cả các môn sinh tăng ni cũng như cư sĩ. Ai tới viếng tang cũng đều im lặng hành lễ, không điếu văn, không tuyên bố trước bàn thờ. Cả thế giới tiếc thương và cảm phục một thiền sư Việt Nam, một vị “Thay” của đông đảo học trò thuộc mọi chủng tộc, mọi tôn giáo.

Riêng trò này, môn học Duy Biểu mà con đã được học nhiều khóa từ Thầy có thể là yếu tố chính giúp con thay đổi tâm thức (và có lẽ cả cơ thể) mình. Con nhớ rõ những buổi nghe Thầy giảng tại căn phòng nhỏ Xóm Hạ Làng Hồng mùa đông 1989-1990, những bài học lần đầu được nghe về môn Tâm học sâu sắc này, cùng với sư cô Quảng Giải (sau là Thanh Lương), sư cô Như Ngọc (Diệu Ngọc), chị Tịnh Thủy (mới sáng tác bài hát Thiền hành-sau xuất gia là sư cô Quy Nghiêm), anh Hoàng (Sư Pháp Lữ), v.v.. Sau ba tuần, con trở về Canada và sau khi rời làng, con đã thỉnh bộ cassette trọn khóa, sau đó cùng học với anh Chân Văn và chú Chân Cơ tại Làng Cây Phong. Vài ngày cuối, trước khi rời Làng Hồng, con đã viết được bài hát Thiền sư kính tặng Thầy:

“Gặp thanh gặp sắc (Ngộ thanh ngộ sắc) như hoa mọc đầu non
Thấy lợi thấy danh như bụi rơi xốn mắt (Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết)
Thênh thang giữa cuộc đời. Vững chãi và thảnh thơi
Ngồi yên như núi. Đi lại như mây
Thở với rừng cây. Lời vang tiếng sóng
An nhiên giữa cuộc đời
Độ thoát biết bao người.”

Có thể trong những phút giây có chút “tỉnh thức” khi sống trong Làng Hồng, bên thầy và tăng thân, con đã nhận ra được ít nhiều “chân tướng” của Thầy nên có cảm hứng mà hát được mấy câu này. Sau này, môn Duy Biểu được Thầy giảng thêm trong các khóa tu và trong sách in, đã giúp con học lại cùng tăng thân Làng Cây Phong, Xóm Dừa và tăng thân Waterloo nhiều lần. Con nhận diện và chuyển hóa được một chút ba thức quan trọng (Ý thức, Mạt Na, và A Lại Gia) nên con được sống an vui hơn… Cho tới nay, bước sang tuổi hơn 80, con vẫn sinh hoạt và học hỏi Phật pháp, chia sẻ kinh nghiệm được với tăng thân trong Zoom Xóm Dừa cùng các bạn từ nhiều địa phương xa xôi như (Việt Nam, Canada, Seattle, Sydney, v.v.).

Ngoài ơn nghĩa sinh thành từ bố mẹ, con được Thầy và các môn sinh của Người dạy bảo, làm gương sáng cho con suốt bốn thập niên qua, con xin thành kính tri ân sâu nặng và xin làm một ngón tay của Thầy, tiếp nối con đường Hiểu và Thương này cho tới hết đời hiện tại. Kiếp sau nếu được sinh ra làm người, con lại xin theo học, tiếp nối Thầy nữa!

Trong ngày trải tro Thầy tại Lộc Uyển, con có viết mấy câu thơ nhỏ như sau:

Ngày rải tro Thầy tại Lộc Uyển

“Thầy tung trong “net” bao châu báu
Tay con chỉ còn một chút tro!
Thầy ơi, con sẽ không quên được
Những gì thầy đã dạy xưa rày
Con xin bước theo gót Thầy mãi,
Kiếp sau lại gặp, lại học thầy!
Thầy ơi! Thầy ơi!

***

Chút tro Thầy trong tay
Chánh niệm dâng tràn đầy
Sao nước mắt cứ chẩy?
Bóng Thầy thoáng đâu đây!

(California, tháng 10, 2026)⧫

Tiểu Huyền
Thầy Nhất Hạnh (Parallax Press)

Discover more from Tinh Tấn Magazine

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *