Về Hai Ngôi Chùa Mang Tên Phước Điền và ‘Cà-Sa Ruộng Phước’/ Vĩnh Hữu

Bài TÂM KHÔNG VĨNH HỮU

Ở Nha Trang có hai ngôi chùa mang phương danh Phước Điền.

Một ngôi tọa lạc dưới chân Đồi Trại Thủy, trên đồi có chùa Hải Đức xưa kia là Phật Học Viện Trung Phần, nên con đường dẫn vào chùa được mang tên Hải Đức.

Ngôi còn lại là một ngôi Ni tự toạ lạc bên bờ sông thanh vắng thuộc thôn Phước Điền, xã Phước Đồng (Đồng Bò xưa), do Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Ý khai lập từ hơn 40 năm về trước, ban đầu mang tên Hoa Sơn Tịnh Cốc; sau này (1995) Hòa Thượng Khai Sơn Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo giao cho Ni Sư Thích Nữ Tâm Hiền kiến tạo thành ngôi già-lam được an danh đầy đủ là Linh Sơn Phước Điền, trở thành một Ni tự cho đến nay.

Nay, chỉ xin nói qua về hai ngôi chùa mang phương danh chỉ hai chữ Phước Điền ở Nha Trang và Diên Khánh để thấy được một chút mối duyên liên quan với nhau giữa hai vị Tổ khai sơn:

– Chùa Phước Điền ở đường Hải Đức (Nha Trang) do Tổ Ấn Ngân, hiệu Tín Thành, tự Tổ Diệm, thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 39, dòng kệ Minh Hải-Pháp Bảo (chùa Chúc Thánh-Quảng Nam) khai sơn kiến lập vào năm 1956.

(Photo: TK Vĩnh Hữu)

Ngài Ấn Ngân-Tín Thành vốn là vị trụ trì thứ 12 của Tổ Đình Sắc Tứ Hội Phước (Chùa Cát) trong thời gian từ năm 1929 (Kỷ Tỵ) đến năm 1945 (Ất Dậu). Vì về thăm quê Quảng Ngãi nhằm lúc biến động lịch sử “Nhật lật đổ Pháp” nên Ngài không trở vào được Nha Trang vào năm đó, chùa Hội Phước không có trụ trì đến 4 năm trời (1945 đến 1949).

Năm 1949 (Kỷ Sửu), chùa thỉnh Đại Sư Đồng Kỉnh-Tín Quả kế nhiệm trụ trì đời thứ 13.

Đến năm 1956 (Bính Thân), Ngài Ấn Ngân-Tín Thành mới trở vào lại Xứ Trầm Hương-Khánh Hòa và khai sơn lập tự ngôi Tam Bảo an danh là Phước Điền ở Xóm Xưởng (tức khu vực xóm Hải Đức hiện nay) để hành đạo. Vào tháng Chạp năm Kỷ Hợi (1959), Ngài viên tịch tại Chùa, trụ thế 75 năm, được an táng trong ngôi tháp nhỏ bình dị gần chân đồi cách Chùa chưa đến 100 mét.

Năm 1969, thầy Thích Nguyên Minh, hiệu Phước Đường, được Hòa Thượng bổn sư Thích Trí Thủ-Giám Đốc Phật Học Viện- cử làm Trụ Trì chùa Phước Điền.

(Photo: TK Vĩnh Hữu)

– Chùa Phước Điền ở xã Diên Sơn, Diên Khánh (cũ) do Đại Sư Thích Đồng Kỉnh, hiệu Tín Quả, lúc bấy giờ đang đảm nhiệm Trụ Trì chùa Hội Phước (chùa Cát ở Nha Trang) về làng để chứng minh, cử hành nghi lễ “đặt viên đá đầu tiên xây dựng nên một ngôi tiểu tự” an danh là Phước Điền, vào năm 197s, sau ngôi Phước Điền ở Nha Trang khoảng 15 năm.

(Photo: TK Vĩnh Hữu)

Đại sư Đồng Kỉnh là Bổn sư của Hòa Thượng Thích Quảng Thiện (Thầy Thủ ở chùa Cát), nhưng vì ngài đang đảm nhận trụ trì đời thứ 13 tại Tổ đình chùa Hội Phước, Phật sự bề bộn, nên không được thuận duyên về Diên Sơn để hoằng hóa, trụ trì…

Chùa Phước Điền-Diên Sơn (cũ) chỉ là một ngôi chùa làng nhỏ đơn sơ mộc mạc suốt mấy mươi năm trời. Mãi đến năm 1998, Thượng Tọa Thích Thiện Tường mới được giáo hội và môn phong cử về trụ trì và thầy đã phát tâm nguyện mở cuộc đại trùng tu ngôi Tam Bảo suốt 10 năm mới hoàn thành, vào năm 2013, tú lệ rộng lớn cho đến hôm nay…

Thật là kỳ diệu!

Từ Tổ Đình Sắc Tứ Hội Phước, nơi chùa tổ hội tụ phước duyên và phước báu, nhị vị trụ trì đời thứ 12 và 13 đều xuất tự nhập thế để khai sáng nên ngôi thờ phụng Tam Bảo mang tên Phước Điền!

(Photo: TK Vĩnh Hữu)

Phước Điền là Ruộng Phước. Những thửa ruộng được ngăn chia bồi đắp thành từng ô thường thấy xuất hiện trên “Phước Điền Y”, là tên gọi khác của áo cà-sa, trang phục chính của tu sĩ Phật giáo.

Áo cà-sa được ghép từ nhiều mảnh vải nhỏ hình chữ nhật hoặc hình ô vuông lại với nhau. Nhìn tổng thể, các ô vải này xếp ngay ngắn giống như các thửa ruộng (liếp ruộng, bờ ruộng) phân chia trong một khu ruộng.

Ruộng (điền) là nơi để gieo hạt giống và thu hoạch mùa màng. Tu sĩ mặc Phước Điền Y giống như một “ruộng phước” cho chúng sinh gieo trồng nhân lành, từ đó sinh sôi công đức và phước báu.

(Photo: Tran Anh Khoa)

Áo cà-sa được Đức Phật quy định để giúp người tu sĩ từ bỏ sự hào nhoáng của thế gian, hướng đến tâm hồn thanh tịnh, sự giải thoát và khiêm nhường. Khi đắp y này, chư Tăng thường niệm bài kệ “Thiện Tai Giải Thoát…” như một lời nhắc nhở về hạnh tu.

Khi đắp Ngũ Y (Y 5 điều – y mặc khi làm việc, lao tác) thì niệm bài kệ:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế bất xả ly
(Chú niệm: Án, tất-đà-da sa-ha)

Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước tối thượng,
Nay con kính tiếp nhận,
Đời đời không rời bỏ.

Khi đắp Thất Y (Y 7 điều – y mặc khi tụng kinh, lễ Phật, thính Pháp) thì niệm bài kệ:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế thường đắc phi.
(Chú niệm: Án, độ ba độ ba sa ha)

Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước tối thượng,
Nay con kính tiếp nhận,
Đời đời thường khoác mặc.

Khi đắp Đại Y / Tăng-già-lê (Y từ 9 đến 25 điều – y mặc khi thuyết pháp, đại lễ) thì niệm bài kệ:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Phụng trì Như Lai mạng,
Quảng độ chư chúng sinh.
(Chú niệm: Án, ma-ha ca-bà, ba-tra tất-đế sa-ha)

Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước tối thượng,
Vâng giữ mạng lệnh Đức Như Lai,
Cứu độ rộng khắp tất cả chúng sinh.

Tấm y cà-sa còn tượng trưng cho 3 mảnh ruộng phước lớn trong đạo tu học:

– Kính điền: Ruộng phước sinh ra từ việc tôn kính Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).
– Ân điền: Ruộng phước sinh ra từ việc đền ơn đáp nghĩa (cha mẹ, thầy cô, quốc gia).
– Bi điền: Ruộng phước sinh ra từ lòng thương xót, cứu giúp người nghèo khổ, bệnh tật.

Thật là:

Nắng vàng nung đất cổ
Y vàng vượt bóng đêm
Lời vàng ân Thầy Tổ
Chùa vàng ánh Đạo thiêng.
⧫

Tâm Không Vĩnh Hữu

Discover more from Tinh Tấn Magazine

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *