Bài TRÍ TÁNH
Thông tin tham khảo từ:
The Historical Buddha: The Times, Life and Teachings, Hans Wolfgang Schumann (bản dịch từ Đức ngữ 1982 sang Anh ngữ 1989 của M. O. Walshe), Nhà Xuất Bản Motilal Banarsidass, First Edition, Delhi. India, 2004. Phiên bản Việt dịch chuẩn xác (1997) do Nguyên Tâm Trần Phương Lan chấp bút, có thể tìm thấy trên trang nhà Thư Viện Hoa Sen hoặc Viện Nghiên Cứu Phật Học.
Tác giả H.W. Schumann theo học ngành Ấn Độ Học, Tôn Giáo Tỉ Giảo, và Nhân Chủng Xã Hội Học (Social Anthropology) tại Đại Học Bonn (Đức). Ông tốt nghiệp Tiến Sĩ với Luận Án Về Triết Học Phật Giáo. Sau đó, ông vừa dạy tại Hindu University tại Benares, Ấn Độ, vừa gia nhập ngành Ngoại Giao, làm việc tại các Lãnh Sự Quán Cọng Hòa Liên Bang Đức tại Kolkata (Ấn Độ), Rangoon (Miến Điện), Chicago (Hoa Kỳ), và Colombo (Sri Lanka). Trong 17 năm sống và làm việc tại Á Châu, giáo sư Schumann đã thăm viếng tất cả các địa điểm, các thánh tích có liên hệ đến cuộc đời của Đức Phật. Đồng thời, ông còn trở về trường xưa để dạy về Phật Giáo tại Đại Học Bonn và viết 9 tác phẩm về Phật giáo được dịch ra 5 ngôn ngữ.

Sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ đề, trở thành vị Giác ngộ, Đức Phật đã đi đến Vườn Nai gần thành phố Varanasi, giảng dạy trực tiếp bài kinh Tứ Thánh Đế cho năm anh em Kiều Trần Như, đánh dấu sự kiện hệ thống giáo lý Phật Giáo chính thức được truyền bá ra thế gian. Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo) đã đầy đủ, hiện tượng Chuyển Pháp Luân bắt đầu. Hành trình giải phóng chúng sinh thoát khổ để trở thành kẻ tỉnh thức bắt đầu. Biến cố kỳ diệu và vĩ đại đó cũng đánh dấu sự thành hình của Tăng Đoàn Phật Giáo (Tăng Già, Sangha) do chính Đức Phật khai sinh, nuôi dưỡng và ký thác để từ đó lớn lên, lan rộng, vượt thời gian, tồn tại cho đến ngày nay qua những chiếc tăng bào nhiều màu sắc trên khắp mặt địa cầu.
Lịch sử cho ta biết rằng từ năm 528 đến năm 484 trước Công Nguyên là khoảng thời gian 45 năm mà Đức Phật đã đi hết miền Tây Bắc nước Ấn Độ, qua các vương quốc Kosala và Magadha cùng nhiều tiểu quốc khác dọc sông Ganges và sông Gandak để tuyên giảng giáo pháp của mình. Đó cũng chính là giai đoạn Ngài thiết lập và xây dựng Tăng Đoàn, từng người một, từng ngày một, để đặt nền móng cho một công cụ thiện xảo (Upaya-kosalla) với chức năng thay Ngài sau nầy, duy trì bánh xe Chánh Pháp được quay đều, và quay bền vững, trong không gian vô tận và thời gian vô cùng.
Trong một xã hội Ấn Độ (gồm các Vương Quốc và Cọng Hòa tự trị) với thượng tầng văn minh và hạ tầng kết cấu cách đây hơn 25 thế kỷ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao, cơ sở vật chất còn sơ khai, các trường phái học thuật và tôn giáo còn mông muội Thần Quyền, Đức Phật đã bắt đầu như thế nào với Tăng Đoàn sơ khai để sau nầy, từ nội lực khởi động đó, trở thành một trong Tam Bảo. Ngài đã bắt đầu như thế nào để kết nạp, giáo dục và chuyển giao nhiệm vụ hoằng dương Chánh Pháp cho các đệ tử của mình? Và Ngài đã xây dựng cấu trúc, đặt ra nguyên lý vận hành, và giải quyết các vấn đề tồn sinh của tổ chức Tăng Đoàn như thế nào?
Những câu hỏi có tính sử học (và khoa học quản trị) đó đã được Đức Phật đối diện và giải quyết không phải bằng “phép thần thông” mà bằng tri giác đời thường phi thần thoại, dưới ánh sáng của tuệ giác Phật Giáo. Ngài đã dùng một số mô thức và ý niệm về cấu trúc, vận hành của “bốn vương quốc, một số nước cộng hòa theo chế độ tập quyền và các nhóm bộ tộc” ở Bắc Ấn như khởi điểm. Trong kinh điển Pali (Tipitaka), các chi tiết cụ thể về cách Đức Phật tổ chức Tăng Đoàn không nằm riêng ở Kinh Tạng mà được ghi chép rất tỉ mỉ trong Luật Tạng (Vinaya Pitaka), phần lớn thuộc hai bộ Đại Phẩm (Mahavagga) và Tiểu Phẩm (Cullavagga). Đức Phật dùng mô hình dân chủ hòa hợp, tự quản tự trị dựa trên kỷ cương giới luật và đạo hạnh của vị Tỳ kheo chứ không lập hệ thống quyền lực tập trung. Những phát hiện Sử Học, Khảo Cổ Học và Văn Bản Học hiện đại cũng đã hé lộ một số chi tiết, tuy mong manh và vẫn còn sơ phác, nhưng cũng đủ cho các nhà sử Phật Giáo tái dựng lại được vài khía cạnh về diện mạo và hành xử của một Đức Phật lịch sử trong khung cảnh xã hội Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm trước.
Bài viết này xin nhằm giới thiệu một tò mò xã hội học rất nhỏ về một hiện tượng xảy ra trong buổi bình minh của Phật giáo:
Thành phần xã hội nào đã chấp nhận Đức Phật và Giáo pháp của Ngài để xin gia nhập Tăng đoàn trong buổi đầu sơ khai?
֎
Chúng ta đều biết rằng lúc bấy giờ xã hội Ấn Độ, từ góc nhìn giai cấp, được thiết lập theo cấu trúc kim tự tháp, gồm 5 tầng chồng chất lên nhau nhưng nương tựa hữu cơ vào nhau. Đó là một tập họp những thành phần phức tạp về bản chất và đa dạng về kỹ năng tiếp nhận Giáo Pháp của Ngài:
- Trên hết là giai cấp Tăng Lữ mà chủ yếu là Giáo Sĩ Bà La Môn, (Brahmin) giữ độc quyền thống trị tư tưởng và tế tự, với một trình độ học thuật cao, dễ thẩm thấu các phạm trù trừu tượng (như Vô Ngã, Vô Thường, Lý Nhân Duyên, Nghiệp), nhưng lại cao ngạo trong vai trò lãnh đạo tinh thần quốc gia, nhiều sở tri chướng và muốn duy trì đặc quyền đặc lợi của hệ thống giai cấp hiện hành.
- Tiếp theo là giai cấp Hoàng Tộc và Tướng Lãnh (Sát Đế Ly, Khattiyas). Họ là thành phần lãnh đạo chính trị, quốc phòng và kinh tế của xã hội, nắm vững quyền sở hữu các nguồn lợi vật chất quốc gia, đề cao giá trị vật dục và triển khai khuynh hưóng hưởng thụ trong đời sống thế tục (Thân phụ Đức Phật, vua Tịnh Phạn, là một mẫu hình tiêu biểu).
- Rồi đến giai cấp Kinh Doanh và Ngân Hàng (Vệ Xá, Vessas), chủ nhân các phương tiện sản xuất, tích tụ và phân phối các sinh hoạt trồng trọt ngũ cốc, nông nghiệp, vải vóc và thương mãi, tạo vốn tư bản để trao đổi nô lệ và hàng hóa. Họ vừa là cái miệng háu ăn rất lớn vừa là cái bụng phì nộn rất to của xã hội, nhưng trái tim thì khô héo và bộ óc thì cằn cỗi.
- Sau đó là giai cấp nô lệ (Thủ Đà La, Suddas), tin chắc rằng mình sinh ra từ gót chân của Phạm Thiên, nên thủ phận làm tôi đòi cho các giai cấp trên. Là bắp thịt, là nguồn năng lượng cơ bắp của xã hội, họ thiếu học, nghèo khổ và an phận nhưng đôn hậu, hiền lành và nhiều tình cảm, họ là mãnh đất mầu mỡ cho các hình thức mê tín thần quyền phát triển.
- Và cuối cùng là một tập hợp đông đảo nhất của một lớp người bần tiện (Ba Ri A Pariahs), không được có giai cấp (casteless) sống bần cùng ngoài lề xã hội, bị các giai cấp ở trên xem như thú vật, không ai muốn liên hệ với (untouchable).
Với 5 loại “đối tượng” như thế, và với một nội dung Giáo Pháp độc đáo, tân kỳ, phức tạp, cách mạng triệt để, vừa trừu tượng vừa thực tiễn, vừa thần bí vừa khoa học … nhưng tất cả lại đan bện với nhau thành một tổng thể chặt chẻ và nhất quán như các cặp phạm trù Tứ Diệu Đế/Bát Chánh Đạo, Luân Hồi/Tái Sanh, Duyên Sinh/Vô Ngã, Niết Bàn/Vô Thường, Tham-Sân-Si/Lục Độ Ba La Mật… làm sao Đức Phật tiếp cận, giảng dạy, thậm chí còn phải tranh luận để thuyết phục những đối tượng có tư duy và tập quán hoàn toàn khác nhau nầy?
Có lẽ, với thực tế xã hội lúc bấy giờ tại Ấn Độ, được sống bình đẳng bình quyền trong một xã hội cực kỳ bất bình đẳng lắm bất công là khát khao cháy bỏng nhất, là “mệnh lệnh của thời đại”. Và gia nhập Tăng Đoàn để thủ tiêu mọi cách biệt giai cấp là tiếng gọi quyến rũ nhất, và cũng là một trong những động cơ nóng bỏng nhất của nhiều người dân. Giáo Pháp của Đức Phật, nhất định trả lời được những yêu cầu đó vì vốn định vị con người không phải trên giai cấp nhưng trên luật Nhân Quả và Nghiệp Báo do mình quyết định và tự mình tạo ra, đã san bằng mọi hố sâu thần quyền và chính trị, mọi cách biệt kinh tế và xã hội, mở cơ hội cho mọi người đều bằng nhau: Những vị Phật sẽ thành! Như “các con sông mất hết tên gọi riêng biệt khi cùng đổ ra biển lớn” (Trung A Hàm, 8.19).
Với tiền đề xã hội dựa trên đặc tính bình đẳng đó của Giáo Pháp, ta có quyền nghĩ rằng có lẽ hai giai cấp ti tiện bị đày đọa nhất của đáy tầng xã hội là Thủ Đà La và Ba Ri A sẽ gia nhập Tăng Đoàn đông đảo nhất, nhiệt tình nhất. Nhưng thật sự có phải như thế không? Cho đến nay, tuy không có một tài liệu nào cho biết gần đích xác có bao nhiêu người đã theo Đức Phật trong giai đoạn 45 năm chuyển pháp luân sơ khai đó, (dù trong một số kinh có kể những “giai thoại” có lúc có cả ngàn người xin làm đệ tử của Ngài), nhưng ít nhất kinh tạng Pali cũng đã cung cấp cho chúng ta danh sách 457 con người lịch sử có thật và sống đồng thời với Đức Phật, công khai chấp nhận giáo pháp của Ngài, tôn xưng Ngài là Bổn Sư, và một số làm lễ “đăng ký” gia nhập Tăng Đoàn, theo Đức Phật sống đời tu tập.
Danh sách nầy gồm 291 Tỳ Kheo, 61 Tỳ Kheo Ni, 74 Cận Sự Nam và 31 Cận Sự Nữ. Tuy nhiên, trong số 457 vị vừa xuất gia vừa tại gia nầy, có một số vị không có thông tin về nguồn gốc và giai cấp xã hội rõ ràng nên cuối cùng ta chỉ còn 306 vị để làm mẫu khảo sát (sampled population). Riêng cho bài viết nầy, xin chỉ quan tâm đến những vị đã xuống tóc thế phát gia nhập Tăng Đoàn, gồm 238 vị và được phân bố như sau:


Historical Buddha, Chương The doctrine, the Order, the laity, Bảng 2, trang 188

Nếu ta chấp nhận mẫu khảo sát 238 vị trong Tăng Đoàn ở trên là có tính tiêu biểu, tạm thời có thể khái quát hóa, thì qua kết quả phân bố nầy, ta rút ra được những bài học gì cho hoạt động Hoằng Pháp hôm nay của Phật Giáo Việt Nam? Lẽ dĩ nhiên, Việt Nam không phải là Ấn Độ, năm nay không phải là năm 480 trước Công nguyên, và nhất là các Tông Phái / Giáo Hội PGVN trong và ngoài nước không phải là Tăng Đoàn thời Đức Phật. Tuy nhiên, đặc thù cho trường hợp Phật Giáo, có vài hằng số xã hội học có vẻ như vẫn bất biến, và còn có giá trị cho ngày hôm nay:
❶ Trước hết là yếu tố GIỚI TÍNH, 199 Nam vs 39 Nữ. Như trong mọi xã hội và môi trường văn hóa mà người phụ nữ chưa được giải phóng như xã hội Ấn Độ cách đây hơn 25 thế kỷ, thì Nam giới bao giờ cũng năng động hơn, chủ động hơn và dấn thân hơn Nữ giới trong hầu hết mọi hình thái sinh hoạt của con người. Cho nên, số Tỳ Kheo gia nhập Tăng Đoàn đông hơn Tỳ Khưu Ni là chuyện dĩ nhiên. Tuy nhiên, nếu ta biết rằng chính Đức Phật, dù biết rõ 5 khuyết điểm và 5 ưu điểm của Nữ giới (Tăng Chi bộ kinh 4, Tương Ưng Nữ nhân) vẫn đã khắt khe như thế nào trong việc chấp thuận Ni giới như một thành tố của Tăng Đoàn (với Bát Kỉnh pháp và giữ 98 giới nhiều hơn chư Tăng) thì tỷ số 20% (39/199) giữa Tỳ Kheo Ni và Tỳ Kheo quả thật là một biểu hiện cách mạng triệt để và một khẳng định về sự hiện diện của Nữ giới trong công cuộc hoằng dương chánh pháp. Nó vừa nói lên tính khai phóng và bình đẳng của Tổ Chức Tăng Đoàn dưới thời Đức Phật, vừa ghi nhận lòng quyết tâm của phái Nữ lúc bấy giờ trong nỗ lực làm một cuộc cách mạng tự thân trong quá trình tìm cầu giải thoát.
Hiện nay, số lượng Ni chúng trong nước chiếm khoảng 52% tổng số Tăng Ni (ngoài nước không có số liệu thống kê nầy), và phản ánh gần đúng với phân bố giới tính của dân số Việt Nam (50.2%, 2024). Đó là điều rất cân xứng, tốt hơn cả thời Đức Phật về mặt … lượng. Nhưng có vẻ như Ni giới Việt Nam, trong các Hiến chương, trên các cơ cấu lãnh đạo cũng như ngoài thực tế hành hoạt, hầu như chỉ đóng một vai trò ngoại biên rất khiêm nhường, không có cơ hội để phát huy tiềm lực của mình trong chiến lược hoằng pháp. Bàng bạc trong tư duy cũng như trong hiện thực xã hội, ngay cả khi ra đến nước ngoài, đầu óc “trọng nam khinh nữ” của truyền thống Tống Nho thủ cựu và của Giới Luật khắt khe, hình như còn tệ hơn thời Kế Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề 25 thế kỷ trước. Các giáo hội cần thể hiện tính khai phóng và bình đẳng hơn trong tổ chức Tăng Đoàn như dưới thời Đức Phật, để nhân đôi sức mạnh phát triển của Giáo Hội, và để làm mẫu mực và sức bật cho xã hội nương theo. Nếu Phật Giáo, đạo của bình đẳng, cách mạng và nhân quyền, không bắt đầu thì ai bắt đầu đây ?
❷ Tiếp theo là yếu tố TRÌNH ĐỘ TRÍ THỨC. Rõ ràng, là giai cấp Bà La Môn đã đón nhận Phật Pháp đông nhất (chiếm hơn 1/3 cho đến gần 1/2), dù lúc theo Tăng đoàn làm người du mục (wanderer) với chỉ 3 tấm y và 1 bình bát, họ đã phải rủ bỏ hết mọi đặc quyền đặc lợi của giai cấp cũ. Lý do chính giải thích sự gia nhập đông đảo nầy là vì giai cấp Bà La Môn được đào tạo trong, và sau đó sống với, môi trường tâm linh và trí thức, tư duy logic cao và có tính hệ thống mạnh, vốn là những đặc điểm nổi bật (và quyến rũ) của hệ tư tưởng Phật Giáo khi tiếp cận từ góc độ trí thức thuần lý (rationalism). Cho nên khi nghe lời giảng của một vị Đạo Sư như Đức Phật, về những chân lý như Giáo Pháp của Ngài, những chân lý bẻ gãy dễ dàng mọi đề kháng tri thức trong óc họ, thì họ không thể có phản ứng gì hơn là quy hàng và kính phục. Rồi tự nguyện làm đệ tử của Ngài. Họ là những trí thức đã gặp một đạo lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp nên dễ bị lôi cuốn và chinh phục, mà chinh phục một cách triệt để và toàn diện, là dĩ nhiên vậy!
Đầu thiên niên thứ nhì 2000’s, Phật giáo lại càng được công nhận là một hệ thống tư duy cực kỳ khoa học và thuần lý, nhưng lại rất hiện thực và nhân bản, vừa kích thích thái độ tra vấn nơi tầng lớp trí thức và nghệ sĩ, vừa mời gọi họ gia nhập một cuộc hành trình vừa có Chân vừa có Thiện vừa có Mỹ. Nếu ta lau sạch được bụi mê tín, quét đi được rác thủ cựu, và làm hiển lộ rồi đưa được những đặc tính nầy đến với giai tầng “Bà La Môn” hiện đại thì chắc Đạo Phật Việt Nam sẽ khởi sắc hơn nhiều. Theo dõi tình hình phát triển Phật Giáo tại Tây Âu và Bắc Mỹ, ta thấy giới “Bà La Môn” Âu Mỹ đã tra vấn và đang hân hoan rũ nhau đăng trình về hướng giải thoát của Phật Giáo cũng chỉ vì thế.
❸ Yếu tố thứ ba là thành phần THƯỢNG LƯU. Ngược với thói nghĩ thông thường, hai giai cấp Hoàng Tộc và Doanh Nhân lại theo Phật đông hơn (khoảng 1/3) hai giai cấp nô lệ bần cùng. Lý do gì đã khiến những con người uy quyền sống trên nhung lụa, chạy theo những hưởng thụ vật dục … lại chấp nhận một cái đạo nói về Khổ, về Tánh Không, về Vô Thường. Các bộ kinh Nguyên Thủy cho ta biết Đức Phật là một nhà giáo tinh tế trong việc chọn đề tài (và các ẩn dụ) tùy theo căn cơ của thính chúng. Với hai giai cấp Hoàng Tộc và Doanh Nhân nầy, Ngài đã vận dụng tính tạm bợ và bất toàn của mọi “sự” và “vật” (vật lý và tâm lý) mà bản thân giai cấp họ đã trực tiếp thể nghiệm thông qua chính cuộc sống uy quyền nhưng bất trắc, nhung lụa nhưng bất an, để trao cho họ một phương pháp luận mới về nhận thức (Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên), chỉ cho họ một con đường mới (Trung Đạo, Bồ Tát Đạo). Chức Quyền Thế Tục và Của Cải Vật Chất, vốn là những thuộc tính xác định tính giai cấp của họ, và tưởng là những chướng duyên cản trở, thì bằng cách tiếp cận khéo léo của Đức Phật, bổng trở thành tăng thượng duyên cho họ mau tỉnh ngộ (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng – kinh Kim Cương), quyết định từ bỏ tất cả để gia nhập Tăng Đoàn hoặc trở thành những A Dục Vương hộ đạo tuyệt vời.
Ngày nay, đọc lại Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Thầy Mật Thể, ta thấy thời nào mà Cao Tăng và Quân Vương, vì lợi ích dân tộc, thật sự và chân tình đồng hành với nhau thì thời đó nước giàu dân mạnh, đạo pháp chan hòa, tổ quốc cường thịnh. Giai cấp Sát Đế Ly Việt Nam hiện nay, từ trung ương đến địa phương, đang trong quá trình hóa thân về nhận thức, nhất là nhận thức về vai trò của Phật Giáo trong đời sống quốc gia, cũng như nhận thức về ý nghĩa đời sống trước những khủng hoảng chung và thảm kịch riêng mà họ thể nghiệm. Phật Giáo Việt Nam cần tiếp cận “giai cấp” nầy bằng cách khởi đi, như nhà hùng biện Cồ Đàm ngày xưa, từ chính những thể nghiệm của giai cấp Sát Đế Ly Việt Nam nầy để thuyết phục họ trở thành những Lý Phật Tử thời hiện đại. Và ở vế bên kia, Phật Giáo Việt Nam, như một tổng thể hay như những cá nhân Tăng Ni, cần có đủ tư cách “Cao tăng” để được giai cấp Sát Đế Ly Việt Nam hôm nay, trong bộ máy nhà nước cũng như ngoài môi trường xã hội, xem là người đồng hành đáng khâm phục, đáng lắng nghe. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam há đã chẳng từng có những Thiền Sư/Quốc Sư làm Thầy của Vua dung tam tế để trụ tích trấn vương kỳ đó sao?

❹ Và cuối cùng, con số quá khiêm nhường (chỉ 10% Tỳ Kheo và 2,6% Tỳ Kheo Ni) của hai giai cấp nô lệ bần cùng trong xã hội, hai giai cấp có lẽ chiếm tuyệt đại đa số toàn dân số Ấn Độ lúc bấy giờ, đã nói lên những bất cập của bước đầu xây dựng Tăng Đoàn khi không tỏa ra đủ rộng để với đến và thu phục được thành phần đông đảo nhất và xứng đáng nhất của xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Thật vậy, đó là thành phần sinh ra là khổ, tiếp tục sống là khổ, và trước lúc chết cũng là khổ. Khổ tinh thần triền miên và khổ vật chất mãi mãi. Mà đối với tuyệt đại đa số chúng sinh, “khổ” là gì nếu không phải vừa là nguyên ủy hình thành vừa là lý do tồn tại của Phật Giáo! Tứ Diệu Đế há chẳng phải là bài giảng đầu tiên để Phật chuyển Pháp Luân sao? Thế thì tại sao hai thành phần đau khổ Pariahs và Suddhas đó lại gia nhập Tăng đoàn ít oi như thế?
Hans W. Schumann (trong Der Historische Buddha – Đức Phật Lịch Sử) lý giải hiện tượng nầy bằng 3 lý do: (1) Họ không có khả năng tri thức để tiếp thu được các khái niệm trừu tượng và/hoặc cần lý trí nên họ đã từ khước lời dạy của Đức Phật. (2) Họ bị từ chối không được gia nhập Tăng Đoàn vì đa số mang các chứng bệnh truyền nhiễm chết người , và (3) Họ vào rồi ra khỏi Tăng Đoàn liền vì Giáo pháp của Đức Phật không giải quyết được ngay tức khắc cái khổ vật chất của họ (lão, bệnh và tử – tuổi thọ trung bình thời đó ở Ấn Độ là 27 tuổi).
Nhìn lại nước ta, trong hơn 350 năm qua, một tôn giáo ngoại nhập, xa lạ với truyền thống tâm linh và văn hóa cha ông, nhưng đã phát triển được trên mãnh đất tâm linh của dân tộc và năm 1963 đã dạy cho chúng ta một bài học chua xót: “Theo đạo có gạo mà ăn”! Bài học đó, có thể chính Đức Phật cũng đã từng không chú tâm đến trong thời sơ khai thiết lập Tăng Đoàn nên một mảng lớn dân chúng Ấn Độ thuộc hai giai cấp Suddhas và Pariahs khốn cùng, đã khước từ giáo pháp của Ngài hoặc bị xua đuồi khỏi Tăng Đoàn. Điều đó có nghĩa là trong kích thước hoằng pháp hôm nay, trước lúc nói với dân chúng nghèo khổ và ít học về các phạm trù trừu tượng của Giáo Pháp, xin hãy cụ thể giúp họ có cơm ăn áo mặc, có thuốc uống nhà ở. Mà đó chẳng phải là một trong Lục Độ Ba La mật của Phật Giáo hay sao? Các công tác cứu trợ, các Tuệ Tỉnh đường, các Lớp Học Tình Thương, … thường bị “rẻ rúng” giao cho Ni chúng phụ trách trong khi, với trường hợp Việt Nam và trong giai đoạn nầy, đáng lẽ phải là một đại công tác của những người con Phật.
Lịch sử hình thành và phát triển của Tăng đoàn, từ gốc đầu tiên ở Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm, hay của Việt Nam cách đây khoảng 20 thế kỷ, chắc còn để lại nhiều bài học quý giá có thể áp dụng vào công cuộc Hoằng Dương Chánh Pháp. Trong lúc say mê với tốc độ phát triển của thời đại hôm nay, nhiều lúc chúng ta bị lôi cuốn vào những cuộc phiêu lưu không tưởng, thậm chí còn tác hại vào ngôi nhà Phật Giáo Việt Nam. Ngược lại, cũng nhiều lúc chúng ta tự mãn với thành quả nặng tính hình thức, rồi ngủ yên trên thành quả đó mà không nỗ lực nhịp bước song hành với thời đại.
Cả hai thái độ đều mang nhiều cạm bẫy bất trắc. Tối ưu vẫn là vận dụng bài học quá khứ và đãi lọc thành tựu của thời đại để phối hợp tìm cho mình một hướng đi khế lý khế cơ đúng chánh đạo, một cung cách hoằng truyền đúng chánh pháp. Như lời dặn trầm thống và ước mơ thiết tha của một vị Thầy của chúng ta, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, (1918-1973) trong Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ cách đây chưa lâu:

“Khao khát cái tuyệt đối, khinh thường cái tương đối; mong cầu cái vĩnh viễn trường tồn, ruồng bỏ cái biến chuyển vô thường, người Việt Nam nói riêng và người Á Châu nói chung đã được huân tập mấy ngàn năm trong một thái độ tư tưởng như trên, nên đã xem thường lịch sử, là một môn học theo sát sự biến chuyển vô thường của sự thế, mà mục đích là mong ghi chép một cách trung thành những gì đã mất hút trong bóng tối của thời gian.
Quan niệm khinh thường lịch sử ấy đã đem lại cho chúng ta nhiều điều tai hại không nhỏ. Chúng ta đã bỏ mất bao nhiêu bài học quý giá mà ông cha chúng ta mua với một giá rất đắt; chúng ta đã mất rất nhiều liên lạc với quá khứ, tắt mất đường thông cảm với người xưa, và đang lạc loài trong hiện tại vì không biết nên bỏ con đường nào và nên theo con đường nào. Người ta thường nói rất đúng: một dân tộc không quá khứ, thì cũng khó mà có tương lai.
Riêng trong phạm vi Phật Giáo chúng ta, tìm về cho đúng nguồn gốc, thử vạch lại con đường đi truyền giáo của ông cha, xây dựng lại mô hình của một thời đại huy hoàng của Phật Giáo, đó là những công việc vô cùng khó khăn, nhọc mệt.
Nhưng mặc dù mệt nhọc, khó khăn, không lẽ thấy vết xe đổ của người xưa mà nay chúng ta không tránh, cứ nhắm mắt đi càn? Người xưa đã xem thường lịch sử, ngày nay trái lại, chúng ta phải dành cho nó một địa vị quan trọng. Có thấy rõ được nguồn gốc, sự phát triển, những thời đại thịnh suy của một Tôn Giáo, chúng ta mới hiểu rõ được giá trị chân thật của Tôn Giáo ấy. Nhất là nếu chúng ta là những người có nhiệm vụ truyền bá giáo lý của Phật Đà, thì hơn ai cả, chúng ta phải học lịch sử Đạo Phật để tìm hiểu lẽ thịnh suy, nguyên nhân những thành bại của công cuộc hoằng dương chánh pháp trên khắp năm châu, hầu bắt chước những điều hay có lợi cho Đạo, bỏ những điều dở, có hại cho Đạo, để Phật Pháp được hoằng truyền mãi mãi với thời gian.”
8/2026⧫

Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.