Ngợi khen bà Kuai Chan can đảm trước cái chết

Đọc 12 phút

Bài VISUDDHACARA THERO
Chuyển ngữ Thầy THÍCH TÂM QUANG

(Bài viết dưới đây là chương 4 của cuốn ‘Loving and Dying’ xuất bản năm 1993, được thầy Thích Tâm Quang dịch là ‘Chết Trong An Bình’ năm 2004.)

Tôi muốn nói với bạn về một hành giả du già can đảm, đã chết êm ả do bệnh ung thư với tiếng “Niết Bàn” trên môi. Tên bà là Kuai Chan và bà ra đi vào ngày 18 tháng Chạp, 1992 tại Kuala Lampur, hưởng dương 43 tuổi. Ông Billy, chồng bà, kể cho tôi nghe bà đã đương đầu với bệnh tình ra sao. Thấy câu chuyện đầy hứng thú, nhất là đối những hành giả du già (tu thiền), tôi xin phép ông được kể lại trong sách này, và tôi cảm ơn ông đã đồng ý cho phép tôi.

Bà Kuai Chan được chẩn bệnh lần đầu tiên với bệnh ung thư vú vào tháng 4, 1989. Vào thời gian này bà đã tu tập thiền Minh Sát vào khoảng độ một năm. Bà bình tĩnh chấp nhận bệnh tình. Billy nói, “Vợ tôi chấp nhận bệnh, đó là cái nghiệp của bà” (nghiệp là một định luật tự nhiên của nguyên nhân và hậu quả). Bà không đổ cho ai hay bất cứ cái gì. Bà cũng không cay đắng hay rơi vào tình trạng ngã lòng. Bà hết sức vững vàng và giữ bình thản cho đến lúc chết.”

Kuai Chan đã trải qua giả phẫu để loại bỏ vú bị nhiễm. Ba tháng sau bà lại phải giải phẫu lẫn thứ hai khi người ta thấy những tế bào ung thư vẫn còn ở trong phần cơ thể này. Sau đó bà được xạ trị và hóa trị có tác động phụ tối thiểu. Trong suốt thời kỳ chữa bệnh ung thu vú và trong sáu tháng cuối đời khi được chẩn đoán là bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối, bà đã khước từ thuốc men. Ông Billy kể, “Bà không muốn uống bất cứ thứ thuốc giảm đau nào. Cả đến khi cơn đau lên đến cực độ bà vẫn cương quyết từ chối không uống thuốc, ngay cả đến một viên Panadol. Bà là một người kiên quyết, rất mạnh mẽ và đáng khâm phục.”

Bà quyết định không chữa trị bằng thuốc giảm đau vì muốn giữ tâm bà càng trong sáng và tỉnh táo càng tốt. Bà là hành giả du già, và tất cả những hành giả du già trân quý chánh niệm. Họ không muốn một thứ thuốc nào làm cho tâm họ trì độn và làm hại sự thiền định của họ. Cho nên nếu họ lâm bệnh họ sẽ làm như vậy. Kuai Chan đã sửa soạn đối đầu với đau bệnh nên bà đã từ chối thuốc giảm đau. Bà chỉ chấp nhận xạ trị – hóa trị cho ung thư vú của bà vì phương pháp này có thể dẫn đến chữa lành bệnh. Nhưng về sau, bà bị ung thư phổi và được cho biết đã ở giai đoạn cuối bà đã từ chối chữa bằng xạ trị-hóa trị mà bệnh viện đề nghị làm cho bà đỡ tức thở. Và khi bác sĩ đề nghị thuốc giảm đau như morphine, bà cũng từ chối.

Ông Billy cho biết khi trong đợt ung thư vú đầu tiên bà Kuai Chan có một chút khó khăn với cơn đau sau khi giải phẫu. Là hành giả du già, bà đã có thể nhận thấy cơn đau rất rõ ràng và cơn đau sẽ biến đi. Nhưng ung thư phổi là một sự thử thách thực sự. Cơn đau luôn lên đến cực điểm nhưng bà vẫn từ chối không dùng thuốc. Có nhiều lúc bà bị ngất xỉu và ngã sóng soài trên sàn nhà khi cơn đau đột phát. Nhưng bà vẫn bình tĩnh. Bà cũng bị ho dữ dội dai dẳng nhiều ngày đêm. Ông Billy ở bên cạnh bà và khi thấy vợ không ngủ được ban đêm ông cố làm bà dịu cơn đau bằng cách xoa dầu, chà sát và những cách chữa trị truyền thống. Ông đưa bà đến các thầy thuốc Trung Hoa và mua nhiều loại thuốc bắc và sắc lên cho bà uống.

Ông nói chính niềm tin tưởng và thiền định đã giúp bà có thể đối đầu với khổ đau với một mức độ thanh thản và tự tại phi thường. Cả hai người đều đã hành thiền với Thượng Tọa Sujiva tại một đạo tràng ở Ðài Bắc (Đài Loan) năm 1988. Sau đó bà Kuai Chan tiếp tục tham gia thường xuyên các khóa tu khổ hạnh của Thượng Tọa Santisukharama tại Kota Tinggi, Johor (Mã Lai Á).

Khi bà được chẩn đoán bị ung thư phổi sau đợt ho vào tháng 7, 1992, bác sĩ cho biết bà chỉ sống được một tháng nữa. Bác sĩ cho bà Kuai Chan và ông Billy xem hình chụp quang tuyến X, chỉ rõ ung thư đã lan tràn khắp cả phổi. Ông cũng rất ngạc nhiên thấy bà Kuai Chan vẫn đi được và trông rất khỏe mạnh, mặc dù tình trạng ung thư tàn phá phổi đã lan rộng. Nhưng bác sĩ không biết bà Kuai Chan có ý chí chắc như thép. Bà đã sống thêm sáu tháng nữa. Ðối với bà không phải là một cuộc chiến để sống mà là chết có nhân cách. Khi vợ chống bà gặp tôi tại Trung Tâm Trí Tuệ ở Petaling Jaya khi tôi đến thăm nơi đây vào tháng 7, họ hỏi họ có thể làm gì. Tôi khuyên: Ðiều một hành giả du già có thể làm là thiền định! Nếu tôi là bà tôi sẽ thiền định cho đến lúc cuối cùng. Họ được khích lệ, và bà Kuai Chan kiên quyết dành những ngày còn lại để hành thiền tại nhà. Billy nói ông hỗ trợ bà tận tình.

Nhưng bà không cho là cơn đau có thể ghê gớm đến thế. Bà nói bà chưa từng thấy cơn đau nào như vậy. Nhất là ở phần dưới lưng, nóng như đốt và đau như cắt. Bà đã dồn tất cả sức mạnh tinh thần để biết cái đau đớn nhưng bà vẫn không thành công. Cơn đau quá mạnh. Có những lúc bà nằm đó bất lực không nhận biết được cái đau đớn nữa. Bà hoàn toàn cam chịu. Nhưng bà vẫn không uống thuốc giảm đau. Bà tham khảo với thầy dạy thiền; Thượng Tọa Sujiva khuyên bà trải lòng từ bi khả ái và tu thiền sổ tức hít thở để giảm thiểu cơn đau khi bà chịu không nổi nữa. Việc làm này khiến cho bà dễ chịu. Từ sự dễ chịu này bà có thể tiếp tục thiền Minh Sát. Một hôm sau ba tuần chiến đấu với cơn đau dai dẳng, bà có một kinh nghiệm độc đáo. Bà nói với ông Billy trong khi nhận thấy cái đau như cắt, bà quan sát thấy nó càng ngày càng nhỏ đi cho đến khi nó biến hẳn. Bà nói bà cảm thấy như tất cả giác quan đều bị cắt bỏ, như thể không có danh-sắc (tâm và thân) vào lúc đó tâm và thân đã cùng nhau biến đi với cái đau. Bà nói với Billy bà cảm thấy giống như bà trải nghiệm Niết Bàn, và bà cảm thấy cực kỳ sung sướng. Sau kinh nghiệm này, bà không bao giờ gặp phải loại đau đớn cực độ nữa.

Mười ngày trước khi bà lâm chung, ông Billy đưa vợ vào một bênh viện tư vì bà khó thở. Bác sĩ đặt ống dưỡng khí cho bà. Hình chụp tia X cho thấy những tế bào ung thư đã lan rộng hơn nữa làm trầm trọng sự nghẹt thở. Chữa bằng xạ trị – hóa trị được đề nghị không phải là có thể chữa lành bệnh mà chỉ để giảm nhẹ bệnh tình. Bà Kuai Chan không muốn tâm mất sáng suốt nên bà đã từ chối. Sau năm ngày bà yêu chồng đưa về nhà vì bà cảm thấy không có lý do nào nữa để phải ở lại bệnh viện. Ông Billy lắp bình dưỡng khí tại nhà, mang bà về nhà và để bà thở qua ống dưỡng khí hầu làm giảm bớt khó khăn về sự hít thở của bà. Năm ngày sau, từ 13 tháng Chạp đến lúc chết ngày 18 tháng Chạp, bà dường như ở trong tình trạng thiêm thiếp ngủ, thỉnh thoảng mới tỉnh dậy. Hai ngày trước khi chết bà vẫn còn nhớ ngày sanh nhật thứ 17 của đứa con gái vào ngày 17 tháng Chạp. Bà nhắc chồng luộc hai quả trứng cho đứa con gái và cho con một bao (lì xì) đỏ. Ông Billy đã làm theo lời vợ.

Vào ngày 18 tháng Chạp, bà tỉnh dậy lúc 9 giờ sáng với một nụ cười. Bà hỏi, “Có phải tôi ngủ không?”

Ông Billy trả lời, “Phải đã năm ngày rồi, em biết không?”

Bà ngạc nhiên, dường như rất sung sướng và mỉm cười. Bà nói bà không cần uống thuốc bắc nữa. Bà lại nhớ lại ngày sinh nhật của đứa con gái, và mặc dầu ông Billy đã nói cho bà biết là ông đã đưa bao lì xì đỏ cho con như lời vợ dặn, bà lại nói lần nữa, “Hãy cho đứa con gái một phong bao nữa nhân danh em.”

Đến khoảng 2 giờ chiều, bà Kuai Chan muốn nói cái gì với chồng nhưng quá yếu. Ông Billy nhắc bà hãy duy trì tâm trạng vô tư, đừng lo lắng gì về chồng và các con, và cảm thấy tự do để ra đi êm ả. Ông kể, họ đã thảo luận nhiều lần về việc này trước đây, rằng nếu bà có thể lành bệnh thì tốt, và nếu không thể chữa được, thì cũng phải chịu: bà có thể đi một cách thanh thản, hiểu biết nghiệp lực, rằng tất cả chúng ta một ngày đó bắt buộc phải chia lìa.

Vào lúc 3 giờ, khi đứa con trai 15 tuổi đi học về và nói, “Mẹ ơi, con đã về,” bà hiểu tuy không nói được. Bà gật đầu để ra dấu bà biết.

Vào khoảng 3 giờ 30 phút, bà Kuai Chan tận dụng sức lực nói rõ ràng bằng tiếng Quảng Ðông, “Woh Yap Niphoon,” có nghĩa là “Tôi đã vào Niết Bàn,” có ý nói nói là bà tin tưởng bà đã thực hiện hay chứng nghiệm Niết Bàn. Và bà chỉ vào bụng. Ðó là lời cuối cùng của bà, bà ra đi một cách rất êm ả vào khoảng 45 phút sau. Ông Billy nói bà Kuai Chan trong lúc hành thiền thường quan sát sự chuyển động lên xuống của bụng mỗi lần hít vào hay thở ra. Bà thấy sự lên xuống của cái bụng là một đối tượng tốt để đặt tâm vào, và bà thường khuyến khích các hành giả du già nên bám vào đối tượng ấy. Bất chấp hiện tượng nào của thân hay tâm khi ta áp dụng chánh niệm và tập trung vào, cuối cùng ta có thể thấy sự sinh diệt của hiện tượng và đi đến hiểu biết tính chất vô thường, cái bất toại nguyện và vô ngã của chúng. Sự hiểu biết có thể tiến tới đỉnh cao trong việc đạt Niết Bàn, trạng thái chấm dứt khổ đau. Những ô nhiễm của tham sân và si sẽ bị hoàn toàn bị loại bỏ khi chứng nghiệm Niết Bàn đạt được ở trình độ A La Hán [*].

Ông Billy nói khi giờ phút cuối cùng sắp tới, mặt của bà Kuai Chan rạng rỡ, khi bà nói, mắt của bà long lanh và sáng. Vào khoảng 4 giờ 15 chiều, Billy nhận thấy bà đã tắt thở. “Bà trông rất bình thản, thanh thoát,” Billy nói, “Bà đã ra đi một cách rất an lạc.”

Vào khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, một người bạn đạo, Lily, cư ngụ ở xa Petaling Jaya 25 cây số, đột nhiên có ý nghĩ trải tâm từ bi-khả ái đến Kuai Chan. Lily ngồi xuống và thiền định, gửi đi tất cả những tư tưởng về từ bi-khả ái đến Kuai Chan. Lily nói bà thấy Kuai Chan rất thanh thản trong một ảo ảnh trong suốt như pha lê. Khi bà ngừng thiền, bà ta nhìn đồng hồ lúc đó là 4 giờ 15, cùng lúc Kuai Chan ra đi.

(Photo: Original by Tima Miroshnichenko / Pexels)

Ra đi theo cách Kuai Chan đã đi, rõ ràng là một sự ra đi đẹp đẽ. Cách chết nào tốt hơn – với tâm bà tập trung về Niết Bàn. Ai có thể nói cái kinh nghiệm duy nhất nào bà đã trải qua? Chỉ có mình bà biết thôi. Nhưng có một điều chắc chắn là, tâm bà vững vàng vào lúc cuối cùng, hướng về Niết Bàn. Tôi có thể nghĩ rằng bà đã đạt Niết Bàn. Nếu bà đã không làm được thế trong đời này, tôi nghĩ rằng bằng tâm vững chắc và cương quyết của bà, bà sẽ trải qua tái sanh lành làm người hay người trời, và sẽ đạt được mục tiêu hằng ấp ủ trong kiếp sống đó.

Là một Phật tử, bà đã chỉ dẫn cho chồng tổ chức một tang lễ đơn giản, không có những nghi lễ và nghi thức không cần thiết. Theo ý muốn của bà, ông Billy đã thu xếp việc hỏa táng vào ngày hôm sau. Một vài nhà sư Phật Giáo, một số hành giả du già và bạn bè đến tụng kinh. Tang lễ rất giản dị theo lời bà yêu cầu. Ông Billy thu thập tro cốt và đem rắc tại cây bồ đề tại thiền đường sư phụ của họ tại Johor.

Hồi tưởng lại đời sống cùng nhau, ông Billy nói bà Kuai Chan là một người vợ tốt nhất mà ông đã có được. Ông nói, “Chúng tôi lấy nhau đã 22 năm và bà đã sát cánh với tôi qua những thăng trầm, qua nhiều thử thách và cực khổ. Bà có một tâm tính vui tươi và hoạt bát. Bà bao giờ cũng thương yêu và ân cần. Ngay cả lúc bà ốm bà vẫn tuyệt vời. Bà không bao giờ phàn nàn. Bà không ngã lòng. Không có giận hờn hay cay đắng nơi bà. Bà vẫn bình tĩnh và vững vàng. Bà vẫn có thể mỉm cười và cười lớn. Bà chấp nhận tất cả khổ đau với thái độ trang nhã. Bà nói thân bà bệnh nhưng tâm bà không bệnh. Tâm bà vẫn sung sức và khỏe mạnh. Sự quan ngại của bà không phải cho chính bà mà cho người khác. Bà nói nếu bà có thể sống thêm 10 năm nữa, bà sẽ thực hành Phật Pháp nhiều hơn. Bà rất quan tâm đến tôi và những đứa con.

“Thực ra bà đã chịu đựng khổ đau khá hơn tôi. Tôi không thể chịu nổi khi thấy bà quá đau đớn. Tôi cố gắng cho bà uống thứ thuốc bắc tốt nhất hy vọng có thể chữa khỏi hay cho bà được nghỉ ngơi. Ðôi khi tôi hỏi tại sao tất cả việc đó lại xảy ra cho bà. Và tôi nghĩ: Hãy để cho bà sống thêm 10 năm và cuộc đời tôi ngắn đi 10 năm. Xin để tôi cho bà 10 năm của đời tôi. Nhưng lẽ đương nhiên điều đó không phải là để cho chúng ta nói. Chính nghiệp mới có quyền ăn nói cuối cùng.

“Bà thường nói với tôi, ‘Ðó là nghiệp của em, Billy à. Cái đó hoàn toàn đúng. Em không biết em đã làm gì trong quá khứ. Em phải chấp nhận nghiệp của em.’ Ðôi khi bà nói, ‘Em rất hối hận vì đã đem đến cho anh tất cả khó khăn này, Billy, tất cả cái khổ đau này. Billy biết không em nợ anh rất nhiều trong cuộc đời này.’ Tôi phải nói với bà xin đừng nói thế. Tôi nói, ‘Em không nợ gì anh cả. Chúng ta là vợ chồng phải không? Em là người vợ tuyệt vời của anh. Chúng ta cùng trải qua những lúc thăng trầm, và bây giờ là giờ phút cần thiết cho em, anh sẽ ở bên cạnh em. Chúng ta sẽ một mất một còn cùng nhau, anh cam đoan với em.’

“Vào những dịp khác, bà nói với tôi, ‘Này Billy, đây là giáo lý chân chính, con đường thực sự, em rất tin điều đó,’ và bà nhắc tôi đừng lơ là thực tập hành thiền, không nên tự mãn mà phải tu tập chăm chỉ. Chúng tôi đã mất một thời gian tìm kiếm một giáo lý mà chúng tôi có thế hiểu. Và khi chúng tôi tình cờ gặp Phật Giáo và thiền Minh Sát vào năm 1988, chúng tôi đã say mê nó. Chúng tôi thường cùng nhau bàn luận Phật Pháp mỗi đêm bên tách trà. Mối liên hệ của chúng tôi rất tuyệt vời.”

Sati, người em họ của Kuai Chan, hỏi liệu bà có sợ bệnh ung thư không, bà trả lời không, bà không sợ bệnh này. Bà sẵn sàng chịu đựng đau đớn mà không dùng thuốc. Bà quả là một hành giả du già can đảm, mặc dù hết sức chênh lệch, mà vẫn kiên trì thực hành Pháp. Bà làm tôi băn khoăn, nếu tôi, một nhà sư, mà ở hoàn cảnh như bà, bị ung thư, tôi có thể chịu được nhiều như thế không, có can đảm và chịu đựng như thế không? Bà quả là một tấm gương đầy cảm hứng, một vị thầy làm gương cho tất cả chúng ta. Tôi phải cảm ơn ông Billy đã chia sẻ chuyện riêng tư rất cảm động này để chúng ta có thể can đảm trong việc tu tập cương quyết hơn nữa và phấn đấu mạnh hơn nữa.

Ông Billy yêu cầu tôi ghi nhận lòng biết ơn của ông đối với Thượng Tọa Sujiva và những nhà sư khác cùng với các hành giả du già về tất cả sự giúp đỡ ân cần mà họ đã cho ông và Kuai Chan. Những bạn hành giả Du già tại Trung Tâm Trí Tuệ Phật Giáo, PJ, đã đặc biệt hỗ trợ tinh thần và khuyến khích Kuai Chan trong suốt thời gian bà bệnh.

Ông nói, “Tôi không biết làm sao bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi. Xin vui lòng nói với họ, tôi xin cảm ơn tất cả. Cảm ơn quý vị rất nhiều về mọi thứ mà quý vị đã dành cho Kuai Chan.”

(Tinh Tấn Magazine sẽ đăng tiếp những chương sau của cuốn ‘Loving and Dying’.)

[*] Về kinh nghiệm chấm dứt những hiện tượng duyên hợp trong khi thiền định, Niết Bàn có thể đạt được ở bốn bậc thánh quả. Mặc dầu kinh nghiệm của Niết Bàn là chấm dứt những hiện tượng duyên hợp ở tất cả bốn bậc. Niết Bàn chỉ có một vị, đó là vị “an lạc” kết quả về phương diện loại bỏ những ô nhiễm tinh thần tuy nhiên khác biệt ở mỗi bậc của bốn bậc.

Ở bậc thứ nhất Tu Ðà Hoàn (Nhập lưu) tham và sân bị yếu đi nhưng chưa bị loại bỏ hoàn toàn. Hai ô nhiễm này bị yếu đến độ người đắc quả Tu Ðà Hoàn không thể phá năm giới, không giết (cả đến một côn trùng) không trộm cắp hay lùa bịp, không ngoại tình, không nói dối và không uống rượu và không dùng các chất ma túy. Ở bậc thứ hai Tư Ðà Hàm (Nhất Lai), những ô nhiễm bị yếu hơn nữa. Ớ bậc thứ ba A Na Hàm (Bất Lai), lạc thú nhục dục và sân hoàn toàn bị loại bỏ. Nhưng vẫn còn dấu vết của vô minh và ham thích một thiên nhiên không nhục dục, có nghĩa là một ham thích dược tái sinh vào cảnh trời Phạm Thiên không nhục dục. Ở bậc thứ tư A La Hán (Bất Sanh, quả thánh hoàn toàn) tất cả ham muốn/ tham đều bị loại bỏ. A La Hán sống kiếp cuối cùng và không còn bị tái sinh nữa.


Discover more from Tinh Tấn Magazine

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *