Bài SATYA ROBYN
(Nguồn: Báo Tricycle tháng 8, 2025, Phúc Quỳnh chuyển ngữ)
Bước vào từ đường phố nhộn nhịp, tôi như bị nam châm thu hút bởi quầy bar của ngôi nhà từng là một quán trọ, nơi có những ô cửa sổ lớn nhìn ra Thung Lũng Severn ở miền West Midlands của nước Anh. Vùng đất được tô điểm với những hàng cây và cánh đồng, trải dài xuống tận chân trời cho đến khi chìm dần vào những ngọn đồi xanh mờ ảo ở phía xa.
Lúc đó, tôi tự nhủ: Đây là một phong cảnh mà tôi sẽ nhìn hoài mà không bao giờ chán. Đến nay chúng tôi đã ngắm nhìn phong cảnh đó hơn một thập niên. Tôi và phối ngẫu Kaspa đã dọn đến quán trọ và sửa chữa nó thành một ngôi chùa Tịnh Độ Tông. Phong cảnh bên ngoài thay đổi màu sắc theo từng giờ, từng mùa, và luôn có mặt để nâng niu ngôi đạo tràng trong vòng tay yêu thương.

Việc ngôi chùa gần gũi với thiên nhiên phù hợp với cảm nghĩ của cả hai chúng tôi khi tạo một nhóm tu hành trong cộng đồng địa phương. Kaspa và tôi luôn tìm được sự bình yên trong những khung cảnh thiên nhiên. Khi đạo tràng bước vào lịch trình sinh hoạt hàng tuần, chúng tôi đã thêm vào đó những buổi niệm Phật ngoài trời, dưới ánh sao trên những ngọn đồi.
Mối liên hệ của đạo tràng chúng tôi với Trái Đất ngày càng sâu đậm một cách tự nhiên theo thời gian. Trong thời kỳ đại dịch Covid-19, chùa phải đóng cửa, đến một lúc kia chúng tôi được phép sinh hoạt trong khu vườn của chùa. Chúng tôi bắt đầu một thông lệ mới là tụ tập quanh tượng Phật trong vườn để niệm Phật trước khi đi kinh hành theo con đường mòn quanh một ao nước đầy nòng nọc, những bụi tre xào xạc, những cây liễu cao vút. Có lúc chúng tôi đi bộ trên tuyết giòn tan, có lúc dưới ánh nắng chói chang, nghe tiếng hót của chim sáo đen. Đến khi chùa được mở cửa trở lại, chúng tôi không thể tưởng tượng bỏ đi thông lệ tu hành ngoài trời, vì vậy chúng tôi đã duy trì việc đi bộ trong chánh niệm như một phần thường xuyên trong lịch trình hàng tuần của đạo tràng.
Tôi và Kaspa cũng tham gia hoạt động bảo vệ môi trường với tư cách là thành viên của một nhóm có tên là Extinction Rebellion Buddhists (Phật Tử Chống Sự Tuyệt Chủng). Tôi đã hoàn tất một cuộc phản kháng kéo dài một năm, ngồi thiền một giờ mỗi ngày trên bậc thang ở trung tâm thị xã. Tôi mặc y phục phù hợp với thời tiết trong ngày và đeo một tấm bảng quanh cổ – một bức ảnh quả địa cầu nhìn từ ngoài không gian, với dòng chữ: tình thương và nỗi đau cho Trái Đất. Chúng tôi cũng tham gia phản kháng bất bạo động và bị bắt giữ nhiều lần – ngồi thiền trên các những đường chính của thành phố, chặn cửa vào các công ty xăng dầu, và cản trở giao thông trên mấy cây cầu ở thủ đô London cùng với các nhóm tôn giáo khác.

Sáu năm trước, khi một số người trong chúng tôi rời khỏi đạo tràng để thành lập một nhóm độc lập, chúng tôi nhận thấy mình cần một cái tên gọi mới cho đạo tràng. Chúng tôi cảm thấy việc chọn từ “Trái Đất” là điều tất nhiên. Chúng tôi kết hợp từ này với từ “Quang Minh,” lấy ý từ ánh sáng vô biên của Phật A Di Đà và tên của Bright Dawn Center of Oneness (Trung Tâm Quang Minh Nhất Thể), một nhóm Phật giáo mà chúng tôi đã từng theo học. Chúng tôi đặt tên mới là “Bright Earth” (Trái Đất Sáng Ngời).
Mối liên hệ với Trái Đất vẫn luôn là trọng tâm trong sự hành đạo của chúng tôi. Một trong những vị mục sư của Trái Đất Sáng Ngời là một nhà sinh thái học. Một vị khác thường xuyên tham gia các khóa tu thiền hành với một nhóm Phật giáo bạn, và một vị khác tìm sự tĩnh tâm bằng cách cắm trại ở nơi hoang dã trong các khu rừng địa phương. Chúng tôi đã nương tựa vào Trái Đất bằng nhiều cách khác nhau trong nhiều năm qua. Đến tháng Hai năm nay (2025), một vị đồng đạo của chúng tôi, Mục Sư Ananda (người lãnh đạo một đạo tràng ở Hawaii) đã viết điều này trên trang WhatsApp của nhóm đạo tràng chúng tôi:
“Tôi biết rằng điều này nghe có vẻ là ngoại đạo đối với một số người trong chúng ta được đào tạo theo Phật giáo truyền thống, nhưng tôi tự hỏi liệu chính Trái Đất có nên là một trong những nơi nương tựa hay không? Tôi biết rằng đối với các trường phái Phật giáo phủ nhận thế gian, quy y như vậy là không thể chấp nhận được, vì họ theo quan điểm nhị nguyên và xem bất cứ thứ gì thuộc vật chất đều không đáng tin cậy để làm nơi nương tựa. Tuy nhiên, chúng ta là chúng sanh hữu hình hoàn toàn phụ thuộc vào Trái Đất cho sự tồn tại hàng ngày của mình. Bạn có ý kiến gì không?”

Suy nghĩ đầu tiên của tôi là không đời nào! Tôi cảm thấy mình đã ngoại đạo đủ rồi, khi rời bỏ thể chế dòng truyền thừa được chấp nhận để thành lập một trường phái độc lập. Chúng tôi cũng đã bị xem là kỳ dị đối với một số đồng đạo từ các trường phái khác. Nguồn gốc Tịnh Độ giúp chúng tôi có nơi nương tựa trong việc tu tập, và chúng tôi cũng đặc biệt cởi mở với các giáo lý từ các truyền thống tôn giáo khác. Việc có thêm điều quy y thứ tư sẽ khiến chúng tôi càng trở nên quái lạ hơn trong mắt các Phật tử đồng đạo.
Tôi cũng có khuynh hướng phản đối mạnh về việc “đụng chạm” đến giáo lý cốt lõi này của đạo Phật. Ai cũng biết rằng tất cả Phật tử đều có ba nơi nương tựa – Phật, Pháp, và Tăng – đó là một trong số ít những điều đã gắn bó tất cả chúng ta. Nếu chấp nhận nơi nương tựa thứ tư, thì rồi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp – viết lại Tứ Diệu Đế chăng?
Tuy nhiên, theo thời gian, tôi đã dần cởi mở hơn với ý tưởng đó. Tôi muốn là người hành động nếu đó là hành động có chính nghĩa, chứ không phải vì được những người chung quanh chấp thuận. Đương nhiên chúng ta cần tham khảo ý kiến của các đạo hữu cao cấp hơn và xem xét quan điểm của họ. Sau đó, chúng ta làm những gì mình cảm thấy đúng, chứ không chỉ làm những gì mà văn hóa chung quanh cho là chấp nhận được. Tôi đã học được bài học chua cay này trong quá trình tham gia hoạt động bảo vệ môi trường. Chính phủ của chúng ta không hành động để bảo vệ chúng ta hay hành tinh của chúng ta. Họ nhìn thấy những hậu quả khủng khiếp của các chính sách hiện tại, nhưng thay vì lên tiếng, họ chọn tiếp tục chạy theo tiền bạc (và quyền lực). Chúng ta không thể luôn luôn tin tưởng những người có thẩm quyền – chúng ta cần phải tự suy nghĩ cho chính mình.
Mục Sư Ananda nhắc nhở chúng ta rằng trước đây đã có các trường phái Phật giáo khác bổ túc thêm cho quy y Tam Bảo, kể cả việc thêm các vị sư phụ. Trong Tịnh Độ Tông xưa đã có năm nơi để quy y, ngoài Phật Thích Ca Mâu Ni, pháp, và tăng còn có Phật A Di Đà và Cực Lạc.
Thế nên, nơi nương náu thứ tư này vô cùng quan trọng. Tôi nhớ hai câu nói trong đạo Phật mà tôi rất ưa thích. Câu đầu tiên là của thiền sư Dogen (Đạo Nguyên):
“Cỏ và cây, hàng rào và tường, ngói và sỏi đá, tất cả đều thuyết giảng Phật pháp.”
Câu thứ hai là của ngài Shinran (Thân Loan), vị hiền triết Tịnh Độ vĩ đại và là người thầy tâm giao của tôi:
“Đức Như Lai lan tỏa trong vô lượng cõi giới; Ngài lấp đầy tâm trí và tấm lòng của biển chúng sanh. Do đó, cỏ cây và đất đai đều đạt được Phật quả. Vì chính bằng tâm trí và tấm lòng này mà chúng sanh phó thác cho bổn nguyện của ngài Pháp Tạng Tỳ-Kheo – tức là lòng đại bi [của Phật A Di Đà], nên sự phó thác này không gì khác hơn là Phật tánh.”
Cỏ cây và đất đai đều đạt được Phật quả. Điều đó có thực sự đúng không?
Để kiểm chứng điều này, tôi và các vị đồng đạo đã tự chất vấn về kinh nghiệm tâm linh của mình, đồng thời tham khảo ý kiến từ các bậc thầy vĩ đại. Liệu chúng ta có thể so sánh Trái Đất với Tam Bảo? Chắc chắn quả địa cầu khổng lồ gồm phần lớn là đá nóng chảy này thuộc một phạm trù khác so với Phật, Pháp, và Tăng, khi ba khái niệm này được soi chiếu bởi ánh sáng của Đức Phật? Còn sự tàn khốc của thiên nhiên thì sao, còn bê-tông thì sao, còn sự tranh giành quyền lực của nhân loại thì sao?
Có lẽ điều đó phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người. Chúng ta được nghe rằng chư Phật nhìn thấy chư Phật ở khắp mọi nơi. Khi trải nghiệm những khoảnh khắc nhìn vạn vật bằng Phật nhãn, tôi luôn tìm thấy Phật tánh trong thiên nhiên – những con ếch duỗi chân xuống dòng nước mát của ao sau nhà trong một ngày nóng bức, những đám mây nhẹ nhàng trôi ngang bầu trời trong xanh, tán lá rộng lớn gợn sóng của cây sồi đồng mà tôi nhìn thấy từ cửa sổ văn phòng của tôi.
Sau khi suy ngẫm và thảo luận, chúng tôi quyết định thử thực hiện xem sao. Kaspa và tôi đã viết sẵn một phiên bản của ba lời quy y mà chúng tôi đọc thuộc lòng trong mỗi buổi tu tập:
Con nương tựa vào Đức Phật,
Bậc giác ngộ và tràn đầy tình yêu thương.
Namo Buddhaya (Nam Mô Phật)
Con nương tựa vào Pháp,
Tất cả những gì dẫn dắt con đến trí tuệ và lòng từ bi.
Namo Dharmaya (Nam Mô Pháp)
Con nương tựa vào Tăng,
Những người sống trong ánh sáng của Đức Phật
Namo Sanghaya (Nam Mô Tăng)
Chúng tôi đã thảo luận về cách diễn đạt lời quy y thứ tư. Cuối cùng, Ananda viết ra những lời mà tất cả chúng tôi đều thích nhất. Và sau khi tham khảo ý kiến của một số đạo hữu uyên bác, chúng tôi đã chọn từ tiếng Phạn bhumaya để chỉ Trái Đất, với chữ cuối là yai theo nội dung của câu quy y. Tóm lại, chúng tôi đã thống nhất với lời sau:
Con nương tựa vào Trái Đất,
Linh địa của sự giác ngộ.
Namo Bhumayai (Nam Mô Trái Đất)
Trong buổi niệm Phật kế đó, chúng tôi bắt đầu xướng cả bốn câu quy y. Cảm giác hôm đó thật tuyệt vời.

Khi nói nương tựa vào Trái Đất, chúng ta thực sự muốn nói gì? Đối với tôi, cũng giống như sự nương tựa vào Phật, pháp, và tăng, nó mang nhiều ý nghĩa.
Nơi nương náu thứ tư nhắc nhở tôi về sự phụ thuộc hoàn toàn của mình vào Trái Đất. Tôi phụ thuộc vào Phật, pháp, và tăng như nền tảng tinh thần của mọi việc tôi làm, nhưng với Trái Đất còn có sự phụ thuộc về vật chất nữa – nếu không có quả đất này, tôi sẽ không sống được quá sáu phút. Cũng như dưỡng khí, tôi cần Trái Đất để có thức ăn và nước uống. Trái Đất là nguyên liệu thô cho tất cả tổ tiên của tôi. Trái Đất chính là mặt đất dưới chân tôi.
Nhận thức sâu sắc về sự phụ thuộc này đưa tôi đến hai hướng. Thứ nhất là lòng biết ơn sâu xa đối với mọi thứ tôi nhận được, từ những trái dâu tôi hái trong vườn để ăn sáng, đến các khoáng chất và chất nhựa cần thiết để chế tạo chiếc máy điện toán này. Nhận thức đó cũng khẳng định tầm quan trọng của việc tôi phải làm những gì để bảo vệ Trái Đất. Chúng ta đang phải gánh chịu hậu quả của lòng tham, và mọi thứ sẽ còn tệ hại hơn nhiều. Chúng ta có trách nhiệm phải chăm sóc Trái Đất. Chúng ta nên làm điều này qua những cách riêng và nhỏ – đưa ra lựa chọn có đạo đức mỗi khi chi tiêu tiền bạc, ăn chay, giảm hoặc từ bỏ việc đi máy bay. Chúng ta cũng nên chung tay với người khác khi nào có thể – không chỉ bằng cách tham gia hoạt động xã hội mà còn bằng cách tham gia vào các nhóm cộng đồng hoặc chính trị địa phương, thành lập các nhóm bảo vệ môi sinh tại nơi làm việc, hoặc bất cứ điều gì khác mà chúng ta nghĩ là nên làm.
Việc quy y Trái Đất giúp tôi nghĩ đến những cách thức khác mà Đức Phật “hiện diện” để ban cho tôi những lời dạy. Đôi khi tôi quên mất và nghĩ rằng mình chỉ “thực hành đạo Phật” khi ở trong đạo tràng hoặc khi nói về giáo lý với các đạo hữu. Lẽ đương nhiên, ánh sáng của chư Phật xuyên suốt vạn vật. Kết nối với Trái Đất nhắc nhở tôi rằng “cuộc sống thường nhật” của tôi là nơi lý tưởng để trở thành một người tu hành tốt hơn và hy vọng là một tác nhân dẫn truyền ánh sáng, hướng người khác đến nguồn ý tưởng của riêng họ.
Sau hết, nơi nương tựa này mang lại cho tôi sự an ủi lớn lao. Khi nằm dưới bóng cây sồi đồng và ngước nhìn qua những tán lá lung linh, tôi cảm thấy mình được kết nối với mọi thứ trên thế gian.
Tôi muốn hỏi làm thế nào bạn có thể đưa Trái Đất vào sự tu hành hàng ngày của mình. Có lẽ bạn sẽ đảnh lễ mặt trời hoặc kính lạy một cây xanh trong khu phố trước khi ngồi thiền. Có lẽ bạn sẽ “đi dạo trong thiên nhiên” hàng tuần một cách chậm rãi, giữa những tòa nhà văn phòng, những mảnh công viên nhỏ, và những con chim. Có lẽ bạn sẽ đặt một viên sỏi hoặc một vỏ sò lên bàn thờ trong nhà.
Bằng cách thừa nhận sự phụ thuộc của chúng ta vào Trái Đất thân yêu, và bằng cách kết nối với lòng biết ơn đối với những món quà tuyệt vời của Ngài, chúng ta sẽ tự nhiên hướng tới một cuộc sống hài hòa hơn với Ngài. Chúng ta cũng sẽ có thể lên tiếng mạnh dạn hơn để bảo vệ Ngài, và hành động đối phó chủ nghĩa tư bản khai thác, bất công toàn cầu, và những hậu quả trên diện rộng khác của tham, sân, si của chúng ta. Trái Đất cần sự kính trọng và chăm sóc của chúng ta hơn bao giờ hết. Namo Bhumayai.⧫


Discover more from Tinh Tấn Magazine
Subscribe to get the latest posts sent to your email.