Những Giọt Sương Mai …/ Phổ Định

*Đọc 26 phút*

Bài PHỔ ĐỊNH

Dưới đây là 10 câu chuyện Thiền ngắn được lược dịch dựa trên trang web mang tên Thiền phái Tào Động (SOTOZEN.COM) cùng một vài nguồn khác. Các câu chuyện này vừa mang tính lịch sử vừa thâm trầm Thiền vị và không thiếu nét đặc trưng của các chuyện Thiền vốn chứa đựng sự bất ngờ pha lẫn một chút hài hước.

Soto Zen (Nhật ngữ) được hiểu là Thiền phái Tào Động, một trong những tông phái lớn phát khởi khoảng thế kỷ thứ 9 từ Trung Hoa, khoảng cuối đời nhà Đường (Hoa ngữ là “Cao dong zong”) và sau đó lan truyền ra khắp thế giới. Ở Nhật Bản, Tào Động (Soto Zen) là một tông phái lớn của Phật giáo và đã được các Thiền sư xứ Phù Tang giới thiệu với phương Tây từ những năm giữa thế kỷ 20.

Về hành trì, Thiền phái Tào Động nhấn mạnh việc thực hành “Thiền tọa” (zazen) mà nội dung (trích từ wikipedia) là “hành giả chỉ cần ngồi yên lặng quán chiếu với thái độ vô sở cầu, vô sở đắc. Khi tâm tịch tịnh không còn vọng niệm, trí tuệ của Phật Tính tự nhiên phát khởi. Thông qua đó hành giả nhận ra được bản lai thanh tịnh xưa nay của mình.”

Chuyện 1: Tu và Chứng Là Một (Tu tức là Chứng)

(Image: SOTOZEN.COM)

Mazu Daoyi là một nhà sư sống vào thời nhà Đường của Trung Hoa. Ngày nọ, sư đang thực tập Thiền tọa thì thầy của sư là Nanyue Huairang đi ngang. Nanyue hỏi: “Mazu à, Thiền tọa của con rất đáng khâm phục, nhưng con Thiền tọa như vậy để đạt được điều gì?”

Mazu đáp: “Dạ để chứng ngộ.”

Ngay khi nghe câu trả lời của học trò, Nanyue tìm ngay một miếng ngói và bắt đầu chà xát miếng ngói đó lên một phiến đá. Mazu lấy làm lạ, bèn hỏi: “Thầy làm gì vậy?” Nanyue trả lời: “Ta sẽ mài và đánh bóng miếng ngói này thành một tấm gương”.

Mazu phản đối: “Ngay cả khi được đánh bóng, làm sao miếng ngói lại có thể thành tấm gương được,” Nanyue hỏi vặn lại ngay: “Bộ con nghĩ thực tập Thiền tọa đưa con đến chứng ngộ à?”

Chúng ta thường nghĩ tu tập và chứng ngộ là hai điều riêng biệt, rằng tu tập xảy ra trước rồi chứng ngộ đến sau. Nhưng đối với Thiền phái Tào Động thì Thiền tọa là một hình thức tu tập và chính nó cũng là sự chứng ngộ, không phải hai điều khác nhau hoặc điều này dẫn đến điều kia. Khi mang tâm phân biệt và nghĩ đến hai điều này một cách riêng biệt thì có thể nói Thiền đã bị “vẫn đục”. Nói cách khác, hành giả không đạt mục đích chứng ngộ bằng cách tu tập vì tu tập tự nó đã là mục đích chứng ngộ, và mục đích, hay sự chứng ngộ, cũng là sự tu tập. Do đó, hành giả không chờ đợi sự chứng ngộ khi thực tập Thiền tọa.

Câu chuyện ngắn trên kia nhắc nhở hành giả chớ dùng Thiền tọa như một phương pháp để đạt sự chứng ngộ vì sự chứng ngộ thật sự thì phải tinh tuyền, không “vẫn đục”. Có một câu nói rằng, “Thực tập Thiền tọa trong nửa giờ là thành Phật trong nửa giờ.” Hành giả nghiêm chỉnh tọa Thiền mà không mong chờ sẽ thành Phật hay được chứng ngộ. Tư thế khi Thiền tọa tự nó mang Phật tính và là sự chứng ngộ. Như vậy, thay vì chỉ Thiền tọa nửa tiếng, hãy Thiền tọa nửa ngày… Càng đi sâu vào Thiền tọa một cách toàn diện, hành giả càng phát triển sự chứng ngộ.

Chuyện 2: Cắt Đứt Cánh Tay Vào Một Buổi Sáng Có Tuyết Rơi

(Image: SOTOZEN.COM)

Năm 520, Lương Vũ Đế nghe tin Bồ Đề Đạt Ma đã đến Trung Hoa nên cho một sứ giả mời Bồ Đề Đạt Ma đến gặp. Vua hỏi: “Ta đã từng cho xây chùa, chép kinh, và hết lòng giúp đỡ Tăng, Ni. Làm như vậy ta có xứng đáng để được gì không?” Bồ Đề Đạt Ma đáp cụt ngủn: “Chẳng xứng đáng!” Lương Vũ Đế hòan toàn thất vọng vì vua tưởng sẽ được một câu trả lời thuận lợi hơn. Người khác ắt đã thốt những lời để làm vừa lòng vua, nhưng đối với Bồ Đề Đạt Ma, vốn mang tâm nguyện cứu vớt những sinh linh sống trong ảo tưởng, không thể nói để vừa lòng bất cứ ai.

Khi gặp Lương Vũ Đế, vị vua được ca tụng là “Thiên Tử của Tâm Phật”, Bồ Đề Đạt Ma đã nhận ra vị vua này chẳng qua là một Phật tử cuồng si chỉ muốn tìm cái lợi trước mắt. Do đó, Bồ Đề Đạt Ma bỏ đi, băng qua sông Dương Tử để vào nước Ngụy. Sau đó, tại ngôi chùa Thiếu Lâm, Bồ Đề Đạt Ma thực hành Thiền tọa trong 9 năm, chỉ ngồi đối diện với một bức tường. Người đời gọi Ngài là “vị sư diện bích”!

Vào ngày thứ 9 của một tháng 12, có nhà sư là Shen-Kuang đi tìm Bồ Đề Đạt Ma. Nhưng cũng ngày đó, một trận bão lớn đã phủ một lớp tuyết dày lên ngọn núi. Sau nhiều nỗ lực, Shen-Kuang cuối cùng mới đến được trước bức tường có Bồ Đề Đạt Ma đang tọa thiền. Đêm Đông đó trên đỉnh núi quá lạnh đến nỗi cứng cáp như mắt trên thân tre mà cũng gãy và không ai ở ngoài trời chịu nỗi cái lạnh đó. Thế nhưng Bồ Đề Đạt Ma đã không một lần ngoái nhìn ra ngoài trong khi Shen-Kuang vẫn đứng giữa trời suốt đêm, không ngủ, không ngồi, không nghỉ ngơi. Tuyết lên đến hông, nước mắt đông cứng thành từng hạt nước đá, và áo bào cũng dính sát vào cơ thể và đông lại như một khối nước đá. Tuy nhiên, dù toàn thân Shen-Kuang đông cứng vì lạnh nhưng cái Tâm đi tìm Đạo của Shen-Kuang vẫn hừng hực bừng cháy bên trong.

Cuối cùng, khi bình minh xuất hiện, Bồ Đề Đạt Ma quay lại hỏi: “Ngươi sao lại đứng trong tuyết suốt đêm. Ngươi tìm kiếm điều gì?” Shen-Kuang vừa khóc vừa đáp: “Con có một thỉnh cầu. Xin Ngài nhủ lòng từ bi và chỉ cho con những lời giáo huấn chân thật của Đức Phật.”

Câu trả lời của Bồ Đề Đạt Ma đối với lời cầu xin thành khẩn của Shen-Kuang còn lạnh hơn nước đá: “Người đi tìm những giáo huấn của Đức Phật thì phải liều cả thân mạng. Một kẻ ngu xuẩn và thiếu đức hạnh như ngươi mà đi tìm lời dạy của Đức Phật với sự bất cẩn và kiêu căng như vậy thì chỉ mất thì giờ.” Dè đâu, những lời này chỉ làm mạnh mẽ thêm sự cương quyết của Shen-Kuang. Rút thanh kiếm đeo bên mình, Shen-Kuang chặt đứt phăng cánh tay trái của mình và dâng lên Bồ Đề Đạt Ma. Khi đó, Bồ Đề Đạt Ma nhận ra cái anh chàng Shen-Kuang này là người thật sự đáng để truyền Pháp và sau đó đã nhận làm học trò.

[Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ 28 sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni của Thiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Người kế tục Bồ Đề Đạt Ma làm Nhị tổ Thiền tông Trung Hoa chính là Shen-Kuang hay còn có tên là Huike (Huệ Khả).]

Chuyện 3: Tranh Luận Về Thiền

(Image: SOTOZEN.COM)

Vào thế kỷ thứ 9, cũng trong đời nhà Đường ở Trung Hoa, có một Thiền sư xuất sắc tên là Zhaozhou. Một ngày nọ, Yanyang hỏi sư: “Tôi không có gì cả. Vậy tôi phải làm gì?”

Zhaozhou đáp: “Vất nó đi.”

Yanyang hỏi tiếp: “Tôi đã nói là tôi không có gì cả, vậy ông muốn tôi vất cái gì?”

Zhaozhou lại đáp: “Nhanh lên, mang nó đi đi.”

Câu trả lời này còn lạ lùng hơn câu trả lời trước. Và từ đó đã có câu chuyện hài hước như sau:

Ngày nọ, một nhà sư hành hương đến trước cổng một ngôi chùa trên núi và hét lớn: “Có vị trụ trì đó không? Ta muốn tranh luận với ổng.” Một chú tiểu bước ra và hét to hơn: “Trước hết, ông hãy tranh luận với tôi đã. Nếu ông thắng thì tôi sẽ mời hòa thượng trụ trì ra gặp ông!”

Nhà sư hành hương nói: “À, cái thằng nhóc… Thôi được.” Nói xong, sư im lặng dang tay mặt ra rồi dùng ngón cái và ngón trỏ làm thành một vòng tròn. Chú tiểu liền dang hai tay làm một vòng tròn lớn hơn.

Sư giơ 1 ngón tay. Chú tiểu đáp lại bằng cách giơ 5 ngón tay.

Sư liền đưa 3 ngón tay. Chú tiểu trả lời bằng một cái nhăn mặt.

Có vẻ như chịu thua nhà sư đành rút lui.

Qua một khe hở nơi cửa, hòa thượng trụ trì đã chứng kiến màn tranh luận yên lặng đó, và đã rất ngạc nhiên. Hòa thượng ngạc nhiên vì vòng tròn nhỏ do ngón cái và ngón trỏ của nhà sư có nghĩa là “Tâm của ngươi là gì?” Chú tiểu dang hai tay làm một vòng tròn lớn, “Tâm của tôi như đại dương.” Câu trả lời quá đẹp.

Sau đó nhà sư lại giơ một ngón tay để hỏi, “Còn Thân của ngươi thì sao?” Chú tiểu giơ năm ngón tay ngụ ý, “Ngũ giới – không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, và say nghiện.” Câu trả lời này cũng hay.

Cuối cùng, khi nhà sư đưa ba ngón tay biểu hiện Tam thiên Thế giới thì chú tiểu nhăn mặt ý rằng, “Ngay trước mắt tôi.”

Nghĩ vậy, hòa thượng trụ trì đâm ra thắc mắc, “Lạ thật, không lẽ chú tiểu còn nhỏ mà giỏi vậy?” Hòa thượng kêu chú tiểu và hỏi: “Con với nhà sư hành hương đã đối đáp với nhau ra sao?”

Chú tiểu đáp: “Dạ, nhà sư này chắc đã biết cha của con làm nghề bán bánh gạo (rice cake).” “Tại sao vậy?” “Bởi sư làm vòng tròn nhỏ, ngụ ý bánh cơm của cha con quá nhỏ. Đó là vì sao con lấy hai tay làm vòng tròn lớn hơn vì quả thật bánh cơm của cha con không nhỏ. Sau đó sư hỏi con mỗi bánh gạo bao nhiêu tiền. Và con đã trả lời 5 xu. Ai dè sư muốn con giảm giá còn 3 xu nên con mới nhăn mặt, không chịu. Chắc sư không có tiền nên sau đó đã bỏ đi.”

Trở lại với câu chuyện đầu tiên – Yanyang nói, “Tôi không có gì cả”, ngụ ý, “Tôi đã Ngộ, đã đạt Vô Ngã, Tâm trống rỗng”. Nhưng đối với Zhaozhou thì Yanyang vẫn “có” quá nhiều. Nếu còn dù chỉ một điều trong Tâm thì trên lưng vẫn đang mang cả một gánh nặng. Và quả thật trên lưng của Yanyang là cả một gánh nặng vì trong Tâm vẫn còn một điều mà Yanyang gọi là “không có gì cả”.

Đó là lý do Zhaozhou nói, “Vất nó đi!” và thúc dục Yanyang bước thêm một bước để thật sự Ngộ. Tuy nhiên, Yanyang chẳng những đã không hiểu, còn nói lại, “Tôi đã nói là tôi không có gì cả, vậy ông muốn tôi vất cái gì?” Ở đây, niềm kiêu hãnh “tôi không có gì cả” cuối cùng đã xuất hiện. Và do đó Zhaozhou đã kết, “… mang nó đi đi.”

Chuyện 4: Anh Vẫn Tiếp Tục ‘Ôm’ Cô Đó?

(Image: SOTOZEN.COM)

Tanzan Hara là một Thiền sư nổi tiếng thời Minh Trị của Nhật Bản. Sư cũng là một học giả Phật giáo, là giảng sư đầu tiên về Triết học Ấn Độ tại Đại học Tokyo và đã từng được bầu là thành viên của Học viện Nhật bản (Nihon Gakushiin). Tanzan mất vào năm 1892 ở tuổi 74. Ông biết mình sẽ mất từ trước một ngày. Hai mươi phút trước khi nhắm mắt, ông viết cho những người bạn thân “Tôi sắp lìa đời. Hiện tôi muốn báo cho các bạn biết như vậy.” Tanzan nổi tiếng vì chết trong khi đang ngồi ở tư thế Thiền định.

Khi còn là một nhà sư trẻ, Tanzan đi hành hương cùng với một người bạn thân. Ngày nọ, hai người đến bờ một con sông không sâu và cũng không lớn lắm. Nhìn thấy không có cây cầu nào bắc ngang sông, họ đành lội xuống nước. Bỗng hai người trông thấy một thiếu nữ trẻ đẹp đang ngần ngại từ từ bước xuống bờ sông. Tanzan đề nghị: “Lại đây, ta sẽ cõng cô sang sông. Hãy ôm chặt lấy vai ta. Cô không sao chứ?” Rồi sư cõng cô gái lội xuống nước.

Đến bờ bên kia, cô gái thẹn thùng cám ơn Tanzan nhưng nhà sư trẻ đã không nghe thấy gì vì mãi hấp tấp chạy theo cho kịp với người bạn đồng hành. Hai nhà sư đi trong im lặng thêm khoảng một dặm đường và người bạn đồng hành có vẻ không hài lòng. Cuối cùng, không dằn được nữa, anh ta nói thẳng với Tanzan một cách giận dữ: “Anh đáng bị sĩ nhục. Bộ anh nghĩ nhà sư có thể ôm con gái được à?”

Tanzan, giả bộ như không hiểu, nhìn chung quanh và nói: “Cái gì? Con gái nào? Ở đâu?”

“Thôi đi, đừng giả bộ nữa. Anh mới ôm cô ta vừa rồi đó.”

“Ha, Ha, Ha, Ha, Ha – À, anh nói đến cô đó hả! Tôi cõng cô ta qua sông xong đã bỏ cô ấy ở lại đó rồi. Còn anh tiếp tục ‘ôm’ cô đó trong tâm suốt từ lúc đó cho đến bây giờ sao?”

Chuyện 5: Một Nơi Không Nóng Cũng Không Lạnh

(Image: SOTOZEN.COM)

[Đời nhà Đường ở Trung Hoa có một Thiền sư tên là Dongshan Lianjie (Dogen Zenji trong Nhật ngữ), vốn được xem là một trong hai vị tổ khai sáng dòng thiền Tào Động. Sư thuộc thế hệ thứ 11 kể từ Bồ Đề Đạt Ma và nhiều người xem sư là thế hệ 38 kể từ Phật Thích Ca. Vì đức hạnh sâu dày, Dongshan được tôn xưng là Wuben Daishi (Ngộ Bản Đại Sĩ) sau khi sư qua đời.

Trong tiếng Việt thì tên của sư là Động Sơn Lương Giới và chữ “Động” trong Thiền phái Tào Động đến từ chữ “Động” trong tên của sư (cũng như chữ “To” trong Soto của Nhật ngữ hay chữ “dong” trong Caodong của Hoa ngữ). Sư nổi tiếng qua lời dạy về “Một nơi không nóng cũng không lạnh”. ]

Một ngày nọ, một hành giả hỏi Dongshan: “Khi nóng và lạnh đến, làm sao con tránh được?” Có lẽ chuyện xảy ra vào một buổi chiều vào mùa Hè nóng như thiêu đốt hoặc một buổi sáng mùa Đông lạnh như cắt da, vị hành giả này không chịu nỗi.

Dongshan đáp: “Con nên đi đến nơi nào không nóng cũng không lạnh.” “Thưa Thầy, nơi không nóng hay không lạnh đó ở đâu?” Vị hành giả này có vẻ như nghĩ rằng ở vùng đất xa xôi nào đó có một nơi chốn như vậy.

Để đối lại, Dongshan đã trả lời: “Khi nóng hãy trở thành một với nóng, khi lạnh hãy trở thành một với lạnh. Đó là nơi không nóng cũng không lạnh.”

Nóng hay lạnh tự chúng không phải là vấn đề mà chính cái Tâm âu lo và khó chịu về chúng mới gây nên đau khổ. Một bài thơ xưa viết rằng, “Cái muôi (muỗng lớn múc canh) hàng ngày ra vô ‘địa ngục’ của nóng và lạnh, nhưng vì không có tâm nên không đau khổ.” Quả thật, như bài thơ nói rõ, cái muôi (vốn vô Tâm) nhúng vô chảo nước sôi hay vô bình nước đá thì cũng không hề hấn gì.

Không chỉ giới hạn vào cảm giác nóng hay lạnh, câu nói của Dongshan cũng áp dụng cho Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Có lần, khi Ryokai là nạn nhân của một trận động đất, sư đã trả lời người bạn liên lạc để thăm hỏi, “Khi ta bệnh thì cứ bệnh, không sao. Khi ta chết thì cứ chết, không sao.” Vất đi những ý nghĩ và ảo tưởng là cách duy nhất để tránh được Nóng Lạnh và vượt qua Sinh Tử.

Vào thế kỷ 16, Thiền sư Kaisen Osho của Thiền phái Lâm Tế (Rinzai Zen) được lãnh chúa Shingen Takeda kính trọng và mời làm trụ trì ngôi chùa Erinji của gia đình ở quận Yamanashi. Khi con trai của Shingen là Katsuyori bị phe lãnh chúa Nobunaga Oda tấn công và đánh bại, tàn quân của Shingen Takeda chạy trốn vào chùa Erinji.

Nghe tin Kaisen che chở những kẻ chiến bại đó, Nobunaga trở nên giận dữ và dồn chư Tăng của chùa lên cái tháp nơi cổng chùa rồi ra lệnh hỏa thiêu. Kaisen quay lại nhìn các nhà sư và điềm tĩnh nói: “Rồi, coi như đây là kết cuộc. Dĩ nhiên, chúng ta đang trả nợ cho gia đình Shingen Takeda và không thể đơn giản trao cho kẻ thù những người đã lánh nạn trong chốn Thiền môn. Chúng ta sẽ chết một cách can đảm và trung thành.” Nói xong, Kaisen yêu cầu các nhà sư thay phiên nhau đọc một bài thơ từ trần và cuối cùng, Kaisen ngâm câu thơ: “Thiền định một cách điềm tĩnh thì không cần môi trường yên bình chung quanh. Nếu tâm trong sáng thì ngay cả ngọn lửa cũng mát.”

[Câu thơ này đã xuất hiện trong tập sách thiền Bích Nham Lục (Blue Cliff Record) nổi tiếng, chương “’Không Nóng Cũng Không Lạnh’ của Dongshan”. Tác phẩm Bích Nham Lục là một tập hợp những công án Thiền xuất sắc nhất của Trung Hoa.]

Chuyện 6: Lần Đầu Tiên Khắc In Toàn Bộ Kinh Điển

(Image: SOTOZEN.COM)

Khi xưa người ta phải dùng thuyền trên sông Yodo để di chuyển giữa Kyoto và Osaka. Một ngày nọ, ba nhà sư trẻ không hẹn mà cùng bước lên thuyền. Họ là Kokei từ chùa Todaiji ở Nara, Manzan của Thiền phái Tào Động, và Tetsugen của Thiền phái Obaku. Nghiệp lực đưa đẩy cả ba người cùng đi trên một chiếc thuyền ắt không đơn giản khi họ kể cho nhau nghe về đại nguyện của từng người.

Kokei từ chùa Todai bắt đầu: “Thời chiến tranh, chánh điện Great Buddha bị hỏa hoạn và hư hại. Không nở nhìn chánh điện bị phơi ra mưa gió nên bằng mọi cách tôi nguyện sẽ dành cả đời mình để xây dựng lại chánh điện.”

Manzan của Thiền phái Tào Động tiếp lời: “Chúng tôi rất tôn kính tác phẩm Truyền Đăng Lục (Transmission of the Lamp) và mọi người đều nhấn mạnh đến dòng Thiền của mình. Nhưng ngày nay thứ tự truyền thừa đã bị xáo trộn đến nỗi không ai biết được bao nhiêu thế hệ đã qua kể từ Dogen Zenji (là Nhật ngữ của Dongshan Lianjie, vị sơ tổ người Trung Hoa của Thiền phái Tào Động). Và cũng không ai hiểu được những phả hệ quan trọng này. Tôi nguyện tìm hiểu cho ra lẽ và làm người khác hiểu được mình ở đâu trong phả hệ cũng như biết được bao nhiêu thế hệ đã qua kể từ Dogen Zenji.”

Tetsugen của Thiền phái Obaku nói: “Phật giáo đã truyền vào Nhật Bản được hơn một ngàn năm, nhưng một bộ sưu tập đầy đủ tất cả kinh điển vẫn chưa được xuất bản ở đây. Hiện nay chúng ta vẫn phải dựa vào những mộc bản do Hàn quốc và do nhà Tống, nhà Minh ở Trung Hoa khắc in. Nếu không dùng các mộc bản này thì chúng ta phải chép tay lại từng cuốn. Do vậy, tôi nguyện sẽ khắc in tất cả kinh điển.”

Đây là những người lưu lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản và mỗi người trong bọn họ đã mang trong tâm khảm những đại nguyện đặc biệt đó từ khi còn trẻ. Thêm nữa, họ sống cùng một thời và lại đi cùng trên một chiếc thuyền, thật là điều chưa từng có.

Sau lần gặp gỡ có vẻ như ngẫu nhiên đó, hai mươi năm lần lượt trôi qua. Kokei đã đi khắp Nhật Bản để gây quỹ và cuối cùng, năm 1709, chánh điện Great Buddha ở Nara là kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới đã được khánh thành một cách trang trọng. Manzan cũng vận động được giới lãnh chúa và cuối cùng, năm 1699, đã hoàn thành được đại nguyện của mình là sửa đổi được sự xáo trộn trong phả hệ của dòng Thiền Tào Động.

Riêng Tetsugen cũng hoàn tất đại nguyện của mình vào năm 1681 là khắc in toàn bộ kinh điển nhưng trước đó sư đã phải đối diện với khá nhiều khó khăn.

Để khắc in số lượng kinh điển lớn như Tetsugen mong muốn thì phải cần đến hàng vạn mộc bản, nghĩa là một số tiền rất lớn. Và sư đã đối diện với thách đố này với lòng chí thành siêu việt. Tuy nhiên, ngay khi sư quyên góp được số tiền gần đủ để bắt đầu khởi công khắc in những mộc bản thì một trận đói kinh hòang xảy ra. Nạn nhân của trận đói lê lết khắp nơi và rất nhiều người đã chết. Chứng kiến cảnh ngộ đó, Tetsugen xung vào quỹ cứu trợ tất cả số tiền mà sư đã chật vật lắm mới quyên góp được. Không nản lòng, sau đó sư bắt đầu đi quyên góp lại từ đầu. Nhưng ngay khi vừa có đủ số tiền để khởi công khắc in mộc bản thì lại một trận đói khác xảy ra, lần này thêm thiên tai là lũ lụt. Như lần trước, Tetsugen lại xung tất cả số tiền đã quyên góp để cứu trợ các nạn nhân…

Ngày đầu tiên của lần quyên góp thứ ba, Tetsugen đứng ở một nơi đông đúc người qua lại, gần chân cầu Sanjo để xin tiền. Người đầu tiên đi ngang là một chàng kiếm sĩ. Mặc những lời cầu xin thành khẩn của Tetsugen, chàng kiếm sĩ vẫn bỏ đi, không thèm để ý. Tetsugen đi theo và không ngại ngần mở miệng: “Xin vui lòng đóng góp, dù chỉ là một số tiền nhỏ.”

“Không.”

“Xin ngài…”

“Không!”

Mẫu đối thoại này kéo dài suốt… bốn dặm đường. Cuối cùng, chàng kiếm sĩ với trái tim sắt đá đành chịu thua và làu bàu, “Nhà sư này thiệt như loài sâu bọ!” rồi quăng một xu cho Tetsugen.

Testsugen rối rít, “Cám ơn. Cám ơn!”

Nhận thấy sự lễ độ nơi Tetsugen khi nhận đồng xu và khi nói lời cám ơn, chàng kiếm sĩ đổi thái độ và hỏi: “Nhà sư rất đáng kính kia, ông có thể nói cho ta biết vì sao ông lại quá mừng rỡ dù phải đi theo ta một đoạn đường dài mà chỉ nhận được 1 đồng xu.”

Rõ ràng là rất hài lòng, Tetsugen đáp: “Hôm nay là ngày đầu tiên ta bắt đầu quyên góp cho một đại nguyện và kiếm sĩ là người đầu tiên đáp lời kêu gọi của ta. Nếu không được đồng xu này thì có lẽ một sự nghi ngại sẽ bắt đầu chớm nở trong tâm ta. Nhưng bây giờ với đóng góp này ta tin tưởng chắc chắn là ta sẽ thực hiện được đại nguyện của mình.” May mắn thay, sau lần quyên góp thứ ba, quả thật Tetsugen đã hòan thành được đại nguyện.

Kinh điển sưu tập trong ấn bản “Obaku Edition of the Collected Sutras” mà chúng ta có ngày nay bao gồm 6771 bộ, hơn 60,000 mộc bản. Công trình này là kết quả của tinh thần thuần khiết và kiên trì của Thiền sư Tetsugen khi thực hiện đại nguyện của mình.

[Mong rằng câu chuyện trên gợi hứng khởi để người đọc nhớ đến Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Phật giáo:

Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.]

Chuyện 7: Hãy Sống Ở Đây Bây Giờ

(Image: SOTOZEN.COM)

Là một Thiền sư có vai trò quan trọng khi qua Trung Hoa tìm hiểu và theo học Thiền Tào Động, rồi mang tông Thiền ấy về lại quê hương Nhật Bản, Dogen là một Thiền sư lớn vào thế kỷ 13. Khi được 38 tuổi và đang trú ngụ ở chùa Koshoji thuộc tỉnh Uji, Dogen viết cuốn sách Tenzo Kyokun, “Cẩm Nang Cho Người Đầu Bếp” [“Tenzo” là những người lo chuyện bếp núc ở chùa]. Dogen giải thích, “Phật giáo đã được biết đến ở Nhật Bản từ nhiều năm nay nhưng chưa ai viết về cách nấu ăn đúng đắn cho những hành giả đang tu học, và chính ta cũng chưa từng biết điều này.”

Trước đó, ở tuổi 24, Dogen đã cùng một người bạn đồng tu là Myozen mạo hiểm đến Trung Hoa, lúc đó vào cuối triều nhà Tống, để tìm kiếm Phật pháp chân thật. Sau 4 năm tu học và gặp gỡ nhiều Thiền sư ở Trung Hoa, Dogen nhận ra rằng công việc của một Tenzo, người đầu bếp ở Thiền viện, không khác gì quá trình tu tập Thiền tọa. Dưới đây là một trải nghiệm của Dogen khi đang tu học tại chùa Keitokuji ở Trung Hoa:

Khi băng qua chánh điện để đến thăm Myozen lúc đó đang bệnh, Dogen thấy một nhà sư già, lưng còng như một cánh cung còn đôi lông mày trắng như lông một con chim hạc. Nhà sư này đang phơi nấm trên nền gạch của sân chùa. Trong ngôi chùa có nhiều tăng chúng, số lượng nấm dùng để nấu ăn rất lớn nên người ta thường phơi nấm vào những ngày hè nóng nhất rồi sau đó cất đi để nấu ăn từ từ. Nhà sư già, tên Yung Osho hay “Bếp Yung”, phải tựa vào một cây gậy tre, và vì không đội nón, cả người của ông ta ướt đẫm mồ hôi, nhưng ông vẫn dồn hết tâm trí vào công việc trước mắt dù nền gạch của sân chùa nóng như một lò lửa dưới cái nắng thiêu đốt.

Công việc này vào một ngày nắng nóng như vậy thật sự không dễ dàng với một người còn trẻ, cho người gần 70 tuổi như nhà sư già này thì quả thật rất khó nhọc. Nhà sư trẻ Dogen thấy vậy sinh lòng thương cảm nên nói với nhà sư già: “Sư bao nhiêu tuổi rồi?” Bếp Yung chỉ ngừng tay vừa đủ lâu để trả lời: “Năm nay ta 68 tuổi.”

Dogen gợi ý pha lẫn chút ái ngại: “Người lớn tuổi như sư không nên làm loại việc nặng nhọc như thế này. Tại sao sư không để người khác làm thay?”

Bếp Yung đáp một cách sắc sảo: “Người khác không phải là ta.” Câu trả lời như một mũi tên bắn vào ngực của Dogen. Vẫn quan tâm, Dogen tiếp tục phản đối: “Phải, đúng vậy, nhưng sao sư không ngừng tay một chút? Sư đừng cố ráng quá sức.” Bếp Yung đáp một cách mạnh mẽ: “Rồi ta ngừng đến khi nào?” trước khi quay lại công việc của mình.

Một lần nữa câu trả lời lại như một mũi tên đâm vào ngực Dogen, lần này còn sâu hơn lần trước. Hai câu trả lời là những viên ngọc quý mà mỗi chữ vang dội trong tâm khảm của Dogen. Sau này, Dogen viết lại cảm tưởng của mình, “Ta chịu thua. Tuy nhiên, khi rời đi ta đã thầm nhận ra sự quan trọng của công việc này.”

“Người khác không phải là ta”. Câu này chính là ý niệm “Ở Đây”. “Rồi ta ngừng đến khi nào?” lại là ý niệm “Bây Giờ.” Sự Thật chính là nơi mà Ở Đây và Bây Giờ gặp nhau.

[Dù tựa đề của cuốn sách, “Cẩm Nang Cho Người Đầu Bếp,” khiến người đọc tưởng lầm nội dung sách giới hạn trong việc nấu nướng, Thiền sư Ekiho Miyazaki, trụ trì chùa Eihei của Thiền phái Tào Động, tóm gọn sự quan trọng của cuốn sách khi nói rằng đây cũng là “cẩm nang của đời sống.” Mười năm sau khi từ Trung Hoa trở về quê hương Nhật Bản, Dogen đã là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng, tuy nhiên văn phong và chữ dùng trong “Cẩm Nang” được cho là cụ thể và thẳng thắn hơn những tác phẩm phổ biến kia.

Thiền sư Renpo Niwa, cũng từng là trụ trì chùa Eihei, chia “Cẩm Nang” thành năm phần: Phần 1 là Lời Nói Đầu, trong đó Dogen nhấn mạnh sự quan trọng của người Bếp trưởng và khẳng định vị trí này chỉ nên dành cho những nhà sư đã có nhiều trải nghiệm về Thiền tập. Phần 2 mô tả công việc của người Bếp trưởng và các thái độ cần thiết. Phần 3 liệt kê những hướng dẫn về cách dọn ăn. Trong phần này Dogen kể lại cuộc gặp gỡ của mình với hai người Bếp trưởng khi ở Trung Hoa và nhấn mạnh trải nghiệm này đã có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài lên hiểu biết của sư về Phật pháp. Điều này cuối cùng đã góp phần nung đúc nên khuôn mẫu của Thiền phái Tào Động ở Nhật Bản. Phần 4 là về người Bếp trưởng và sự cần thiết giữ gìn Tâm vắng lặng nhị nguyên và phân biệt khi nấu nướng. Trong phần 5, cuối cùng, Dogen dùng ý niệm Tam Tâm (Sanshin) để kết luận về thái độ của Bếp trưởng. Đây là một tập hợp gồm 3 lý tưởng của Thiền tập: Tâm Cao thượng, Tâm Nuôi dưỡng, và Tâm Hạnh phúc.]

Chuyện 8: Tiếng Chuông Chùa

(Image: SOTOZEN.COM)

Ekido là một Thiền sư sống vào giai đoạn cuối của thời kỳ Sứ quân và cũng là giai đoạn khởi đầu của thời kỳ Minh Trị. Sư đã chế tác môi trường Thiền định rất nghiêm khắc. Trước khi trở thành trụ trì của chùa Soji (một trong hai ngôi chùa chính của Thiền phái Tào Động), Ekido là trụ trì ngôi chùa Tentokuin ở Kaga, và trước đó nữa, sư là trụ trì chùa Ryukaiin ở Maebashi.

Trong Thiền viện, hành giả phải thức dậy từ 3 hay 4 giờ sáng. Sau đó phải đến Thiền đường (Zendo) để thiền tập khoảng một giờ đồng hồ. Thiền đường lúc đó chỉ nhá nhem ánh sáng buổi rạng đông và, dù đông người tụ tập, sự im lặng vẫn bao phủ hoàn toàn như thể không có ai ở đó. Thỉnh thoảng có tiếng quất đến từ cây gậy (Kyosaku) đánh vào vai hành giả tưởng như phá vỡ sự yên tĩnh đó nhưng thật sự lại dẫn đến một sự im lặng sâu lắng hơn nữa làm cả nội tâm được tĩnh lặng.

Trong thời gian Thiền tọa, người ta thỉnh chuông ở tháp chuông (Shorodo) 108 lần. Tiếng chuông thường khi to, khi nhỏ, khi nhanh, khi chậm. Nhiều người thỉnh chuông hay, nhưng cũng nhiều người thỉnh chuông không hay. Và cũng tuỳ thời tiết, tiếng chuông vang vọng khi rõ ràng, khi không.

Vào một buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo, Ekido đang tọa thiền cùng đại chúng bỗng nghe tiếng chuông vang lên một cách trang nghiêm. Sư nhận ra có điều gì khác thường một cách bí ẩn trong cách chuông được thỉnh. “Lạ thật. Hàng ngày ta vẫn nghe tiếng vang vọng bình thường của chuông chùa. Nhưng sáng nay, ta lại cảm nhận một sự nghiêm khắc làm chấn động cơ thể.”

Sau buổi Thiền tọa, Ekido trở về thư phòng và nói với thị giả, “Con gọi người nào thỉnh chuông sáng nay vào cho ta gặp.”

Thị giả dẫn vào một nhà sư trẻ mới đến chùa tu học. Vị trụ trì hỏi: “Phải con thỉnh chuông sáng nay?”

Nhà sư trẻ lắp bắp: “Dạ đúng. Xin thầy hiểu cho… Sáng nay là lần đầu tiên con…” Nhà sư trẻ cúi đầu lo lắng, nghĩ rằng sẽ bị quở trách vì thỉnh chuông không đúng.

Ekido nói: “Không, ta không kêu con vô đây vì con thỉnh chuông không hay. Ta chỉ muốn hỏi khi thỉnh chuông thì con có cảm giác gì?”

Nhà sư trẻ đáp: “Con nghe nói thỉnh chuông là để nghe tiếng của Đức Phật và thể hiện Phật tính. Do đó, khi thỉnh ta phải toàn tâm toàn ý vào điều đó. Sáng nay là lần đầu tiên đến phiên con thỉnh chuông và, trong khi chú tâm lắng nghe tiếng của Đức Phật và thể hiện Phật tính, con đã dồn tất cả nội lực vào cánh tay để cầm cây chày dộng vào chuông. Sau mỗi lần thỉnh thì con chắp tay và quỳ lạy một lạy.”

“A, vậy à,” vị trụ trì nói. “Tốt, con đừng bao giờ quên điều đó.”

Nhà sư trẻ này, tên là Morita Goyu, vốn ngưỡng mộ nhân cách cao quý của Ekido và đã từng theo sát vị thầy này của mình trong 18 năm, sau này trở thành vị trụ trì thứ 64 của chùa Eihei.

Chuyện 9: Hai Mặt Trăng

(Image: SOTOZEN.COM)

Người giúp Thiền sư Keizan xây dựng ngôi chùa Soji và thiết lập nền tảng để Thiền phái Tào Động phát triển mạnh mẽ ngày nay là Gasan.

Năm 16 tuổi Gasan xuất gia trên núi Hiei. Trong 8 năm sau đó, sư hành trì theo Phật pháp và đặc biệt theo đuổi học thuyết của giáo phái Tendai. Tuy nhiên, Gasan ý thức rằng để đạt được sự an lạc chân thật về tâm linh, ông không thể chỉ học về Phật pháp. Do đó ông xuống núi và trở thành môn đồ của Keizan, dâng hiến cả cuộc đời để hành Thiền.

Vốn bản tính sắc sảo và nhạy cảm trong một cơ thể mạnh mẽ, Gasan là người đáng tin cậy và Keizan cảm thấy may mắn có một học trò như vậy để kế thừa mình. Nhưng mặt khác, Gasan dường như khá tự phụ về trí thông minh của mình, và Keizan đã âm thầm dự định, khi thời điểm thích hợp, sẽ làm điều gì đó để sửa đổi thái độ tự kiêu này – một thái độ dường như chỉ “chịu đựng” đại chúng hơn là thật sự hòa hợp với họ.

Vào một đêm Đông, khi trăng đã lên đến đỉnh trời, tất cả núi, sông, ruộng, vườn, nhà cửa được tắm trong một ánh sáng trong suốt và cực kỳ huyền ảo; ánh trăng dường như xuyên suốt qua cả Thân và Tâm. Như vừa chợt nghĩ ra, Keizan nói: “Gasan, ngươi có biết là có tới hai mặt trăng?” “Không, dạ con không biết?” Gasan đáp, rất ngạc nhiên.

Nhìn thẳng vào Gasan, Keizan hạ giọng nói một cách nghiêm nghị: “Nếu con mà không biết rằng có tới hai mặt trăng thì ta không thể cho con thẩm quyền được truyền bá Thiền của phái Tào Động.” Gasan rất sốc vì chưa bao giờ nghe thầy mình phán những lời nghiêm khắc như thế.

Nhưng từ giờ phút đó, thái độ của Gasan hoàn toàn thay đổi. Sư trở nên khiêm tốn, tu tập cẩn thận với các nhà sư khác và thực tập Thiền tọa một cách nghiêm chỉnh. Thái độ tự cao của sư hoàn toàn biến mất. Tuy nhiên đám mây ngờ vực về “Hai Mặt Trăng” vẫn âm ỉ kéo dài…

Ba năm trôi qua. Vào đêm 23 tháng Chạp năm 1301, mặt trăng chiếu một ánh sáng lạnh lẽo và không hiền hòa. Keizan nhìn thấy hình bóng của Gasan đang ngồi đắm chìm vào Thiền định rất tĩnh lặng dưới bóng trăng và sư đọc được ý nghĩ của Gasan. Rón rén đến gần, Keizan để tay bên tai của Gasan và búng một cái. Tiếng búng tay nghe rất nhỏ nhưng đối với Gasan thì đó lại là một tiếng nổ bùng xóa tan đi mọi nghi ngại tiềm ẩn trong tâm từ ba năm qua.

“Ồ, đúng vậy! Bây giờ con hiểu rồi.” Gasan đã hiểu tường tận cái Tâm của Keizan về hai mặt trăng.

Một mặt trăng, không cần phải nói thêm, chiếu sáng bầu trời. Còn ánh sáng từ mặt trăng kia soi rọi tất cả chúng sinh suốt vũ trụ. Nghĩa là – không cần biết một người đã học Phật pháp nhiều đến đâu, nếu không thể hiện hay tu tập trong đời sống hàng ngày, không thể gọi là chứng ngộ chân thật. Cũng vậy, lời của Keizan rằng “Ta không thể cho con thẩm quyền để truyền bá Thiền” nghe có vẻ nghiêm khắc, nhưng thật ra đã thấm sâu vào tâm khảm của Gasan. Câu nói này giúp Gasan hiểu được sự liên hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai” và câu nói đó trở thành một phần của Gasan. Hiểu được cốt lõi của lời dạy của Keizan, Gasan quá mừng rỡ, không nói nên lời.

Từ đó về sau, ánh sáng chói lọi của hai mặt trăng, Thiền sư Keizan và người học trò Gasan, đã trở thành một, soi rọi khắp nơi khi hai thầy trò cùng nhau truyền bá Thiền học. Thiền sư Keizan giải thích những bài viết mô tả chân dung của các Thiền sư vĩ đại trong lịch sử, từ Phật Thích Ca Mâu Ni đến Ejo, người thứ nhì trụ trì chùa Eihei, như ánh sáng chiếu đi từ mặt trăng vậy.

Chuyện 10: Đầu Cừu Thịt Chó

(Image: SOTOZEN.COM)

 “Yoto Kuniku” (Đầu Cừu, Thịt Chó) là một thành ngữ của Nhật Bản mang ý nghĩa dùng đầu con cừu để quảng cáo nhưng trong thực tế thì lại bán thịt chó. Nói cách khác, quảng cáo một món đồ có giá trị cao nhằm bán được một món hàng có giá trị thấp. Hay, rộng ra, một người có vẻ bên ngoài là đại nhân nhưng thật ra bên trong lại là tiểu nhân.

Thiền sư Ikkyu là trụ trì ngôi chùa Daitoku thuộc phái Thiền Lâm Tế ở Murasakino, thuộc thành phố Kyoto. Ngày nọ, một thanh niên trẻ, dáng vẻ kiêu ngạo, đến trước cổng chùa để thông báo, “Ta là người hầu của một đại phú gia ở Kyoto tên là Takaido. Tháng tới đánh dấu một năm ngày phụ thân của ông chủ ta qua đời, ông chủ ta chắc chắn muốn sự có mặt của hòa thượng trụ trì (để hành lễ).”

Khi được thông báo, Ikkyu nhắc thị giả hỏi lại giờ giấc. Chắc sư đã có một ý định nào đó vì bình thường Ikkyu rất ghê tởm những kẻ giàu có mà lại kiêu căng vì sự giàu có của mình.

Ngày mùa Thu khá ngắn và trời bắt đầu chạng vạng khi một gã ăn mày đơn độc trong bộ áo quần rách rưới, dơ dáy, lại thêm cái nón rơm đầy bùn đất, đến trước cánh cửa đồ sộ của dinh thự của Takaido.

“Xin nhủ lòng thương, bố thí cho kẻ nghèo này…”, gã ăn mày nói với giọng yếu ớt. Hắn chắp hai tay với nhau và dáng vẻ rất đáng thương. Tuy nhiên, những người hầu vây chung quanh gã, la hét, “Đừng làm phiền chúng ta! Cút đi! Đi về đi!” và xô gã ra chỗ khác.

Gã ăn mày nài nỉ: “Xin nhủ lòng thương, bố thí…”

“Không có gì cho mày cả! Cút đi!”

Ông chủ nghe ồn ào nên bước ra sân: “Đuổi thằng ăn mày đi chỗ khác ngay. Nó không nghe thì cho nó một đá!” Với lời nói đó, gã ăn mày bị đánh đập tàn nhẫn và bị xô té ra đường. Xoa cái chân bị bầm tím, gã từ từ đứng dậy và đi khập khiễng vào bóng hoàng hôn.

Về đến cổng chùa Daitoku, dưới ánh đèn sáng rực, gã ăn mày cười khúc khích và đó là ai nếu không phải chính là Thiền sư Ikkyu.

Ngày hôm sau, mặc một áo bào rực rỡ màu sắc, bên ngoài chòang thêm một áo gấm dát vàng, hòa thượng trụ trì Ikkyu lên một cái kiệu để được cáng đến dinh thự của Takaido. Sân trong và sân ngoài của dinh thự đã được dọn dẹp sạch sẽ. Dân chúng tụ họp đông đảo để bày tỏ lòng kính ngưỡng đối với vị Thiền sư mà họ coi là Phật sống này. Ông chủ và tất cả người hầu mặc lễ phục và chào đón Thiền sư với tất cả sự trịnh trọng. Sau đó, ông chủ mời Thiền sư đi qua cổng để vào nhà.

“Thưa Ngài, xin bước vào phòng có trang thờ.”

Ikkyu nói, “Không, cám ơn. Đi đến đây là đủ rồi,” và đứng lại.

“Thưa sao vậy? Xin mời vào.”

“Không, đây tốt rồi. Chiếc chiếu manh này là quá tốt với ta.”

Ikkyu ngồi xuống chiếc chiếu và nhất định không đi đâu nữa dù ông chủ có nói gì khác.

Hơi bực mình, ông chủ nắm tay và cố gắng lôi Ikkyu đứng dậy.

Ikkyu gạt tay ông chủ và cất tiếng, “Đây, cầm lấy áo bào và tấm okesa này vô trong phòng có trang thờ. [Okesa là tấm vải hình chữ nhật đắp lên vai trái trên trang phục của nhà sư, biểu hiện chiếc áo cà sa đơn giản của Đức Phật] Bản thân ta không được chào đón ở đây, nên ta ngồi trên chiếc chiếu này là đã đủ.”

Sư nói tiếp, “Ông chủ ơi, nói thật nhé, gã ăn mày hôm qua và vị hòa thượng hôm nay chỉ là một thôi. Hôm qua ta bị đánh, bị đá. Hôm nay ta lại được chào đón và đối xử với tất cả lòng hiếu khách. Sao kỳ lạ vậy? Có phải vì tấm vải okesa này chiếu sáng lộng lẫy quá chăng?”

Nghe những lời này, ông chủ và những người hầu hết sức kinh ngạc. Run rẩy và mặt mày tái xanh, họ không nói nên lời khi nhớ lại họ đã đối phó một cách dã man như thế nào với Thiền sư Ikkyu, người được Sứ quân và các lãnh chúa khác hết lòng kính trọng. Ikkyu mỉm cười cởi áo bào và tấm okesa rồi nói như bất cần mọi điều trên thế gian, “Ông chủ nhờ áo bào và tấm okesa này hành lễ nhé.”⧫


Discover more from Tinh Tấn Magazine

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *